Feeds:
Bài viết
Phản hồi

BÙA NGẢI XỨ MƯỜNG

Phóng sự của Hoàng Anh Sướng

KỲ II: DIỆN KIẾN “NHÀ BÙA CHÚ” CÓ … 1O VỢ VÀ NHỮNG KHÁM PHÁ THÚ VỊ VỀ THUẬT NÉM CHÀI

Quả thật, chỉ đến khi rung đùi ngồi uống rượu nghe “nhà bùa chú” Hoàng Văn Nhẽo kể chuyện bùa mê ngải lú, tôi mới hoàn hồn. Chả là đường đến xóm Dùng phải qua một con suối. Mùa mưa, nước đầy, suối sâu. Xe vừa lao xuống đã kêu đánh “ục”. Máy tắt ngỏm. Trời tối bịt bùng. Sương giăng tứ phía. Một mình giữa núi đồi heo hút. Tôi sởn da gà. Nghiến răng, oằn lưng đẩy xe vượt suối. Một nỗi sợ hãi mơ hồ. Nhỡ ông Nhẽo không có nhà, lại đất khách quê người, biết ở đâu? Mò mẫm mãi cũng đến được nơi cần đến. Cất tiếng gọi lạc giọng, mới nghe lời vọng ra ồm ồm: “Ai hỏi gì tôi đấy?”. Tôi thở phào, chợt thấy thấm thía đến thế câu nói của cổ nhân: “Mừng như chết đuối vớ được cọc”.

Nghe tôi giới thiệu là người thân của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn, ông Nhẽo vui lắm. Tay rót rượu mời khách, ông nói cười rổn rảng: “Anh cứ ở đây với bác vài hôm, không ngại gì đâu. Bác ở có một mình thôi mà”. Tôi đưa mắt nhìn. Căn nhà sàn rộng thênh thếnh, lạnh lẽo như cái đình bỏ hoang. Đồ đạc chẳng có gì. Tài sản đáng giá nhất chỉ là cái tủ buýp-phê mốc lở và chiếc đài cát-xét Trung Quốc bị mất nắp. Tôi hỏi: “Thế bác gái cháu đâu ạ?”. Ông Nhẽo cười buồn: “Chết hết, bỏ hết đi cả rồi. Ngày xưa, bác nèm cho nhiều người đàn bà đẹp mê mình. Nèm cả vợ người ta bỏ chồng theo mình. Vì thế, về già, trời quả báo, phải ở một mình thế này đấy”. Được biết, ông Nhẽo đã dùng thuật nèm chài để lấy những… 10 vợ. Sau này, người thì chết, người thì bỏ ông mà đi. Ông bảo: “Dù có tài nèm đến đâu cũng không tránh khỏi cái hoạ cô đơn về già”. Vì thế, giờ đây, ông chỉ làm phúc nèm cho các cặp vợ chồng yêu thương nhau. Nèm cho đàn ông bỏ gái, đàn bà bỏ giai mà về đoàn tụ với vợ với chồng. Lụi cụi mở nắp chiếc hòm cũ kỹ để ở góc nhà, ông Nhẽo đưa cho tôi xem một tập vở dày cộm ghi chi chít tên tuổi, địa chỉ những người vợ bị phụ bạc, những ông chồng bị cắm sừng đến nhờ ông nèm giúp. Tôi lần giở từng trang. Dễ có đến cả nghìn địa chỉ. Thôi thì đủ cả “4 phương trời mười phương đất”. Gần thì Phú Thọ, Sơn La, Hà Nội. Xa thì Hà Tây, Hà Giang, Thanh Hoá, Nghệ An… Có người ở tận tít tắp trong Bảo Lộc, Lâm Đồng… Xa quá thì đành gửi ảnh “một nửa của mình” và cả ảnh của kẻ tranh vợ cướp chồng để ông Nhẽo làm nèm chia cắt.

Ông Nhẽo bảo: “Phép thuật nèm chài của người Mường có từ ngàn năm nay rồi nên phong phú lắm. Bản thân bác, tu luyện gần trọn một đời, cũng chỉ biết làm có mấy chục bài. Phép tắc, lề lối thì vô cùng chặt chẽ. Khi nèm, phải đọc thần chú liền một hơi cho hết bài. Nếu bị đứt đoạn thì phải nghỉ lấy hơi đọc lại. Đọc thầm, tuyệt đối không cho ai nghe thấy, không cho lưỡi va vào răng. Niệm đủ 3 lần mới hà hơi vào gạo, muối rồi bí mật bỏ vào nồi cơm, canh để ăn vào, tự khắc sẽ yêu thương nhau. Nếu muốn bồ bịch bỏ nhau thì niệm thần chú vào một số hạt thóc rồi quải cho gà nhà người ấy ăn, tự khắc hai người sẽ chán nhau”. Trò chuyện với ông, tôi mới biết, phép nèm vô cùng thần bí, thần bí đến mức có nhiều chi tiết không thể lý giải bằng tư duy lô gíc thông thường. Ví như: Vì sao phép màu muốn truyền dạy người khác phải chọn đúng ngày giờ? Mỗi năm chỉ có vài ngày truyền dạy được? Có những bài nèm chỉ làm được vào lúc chập tối. Nèm xong phải quay mặt ra hướng Tây mà thở. Vì sao khi vào mùa ếch nhái kêu thì có truyền dạy đúng bài bản cũng không thể “khất” (không thực hiện nổi)? Rồi ông say sưa kể về cách nèm cho chó vẫy đuôi để đến nơi có chó dữ, chúng sẽ mừng như mừng chủ. Rồi cách nèm nương bùa, nèm để không một người ngoài nào có thể lấy hoa màu nông sản mình trồng trên nương. Tôi mỉm cười. Thảo nào, lúc ngồi uống rượu, thấy tôi nhấp nhổm ngó nghiêng con Wave để dưới gầm nhà sàn, ông Nhẽo tủm tỉm: “Anh cứ yên tâm, cứ ngồi uống cho thoả sức. Đố ai dám sờ mó con xe của anh. Nếu mất, mai bác đền”.

Nhà bùa chú Hoàng Văn Nhẽo đã đồng ý cho tôi ghi 5 bài thần chú nèm yêu của ông với điều kiện, tôi không được bật máy ghi âm. Đó là bài: Nèm vào khăn mặt cho vợ chồng thương yêu nhau. Nèm dò lá thương yêu (Niệm thần chú vào cành lá rồi thả ra đường. Người mình yêu dẫm phải sẽ tự nguyện theo mình). Nèm phô nống (Niệm thần chú vào bàn tay rồi vỗ vào vai đối phương, tự khắc người ấy sẽ mê mình). Nèm lá phai nhạt chán ghét (Dùng cành lá nèm vào làm cho tình nhân, bồ bịch bỏ nhau). Và bài liếc mắt tìm hiểu (Đọc thần chú xong, liếc mắt đưa tình làm cho đối phương mê mẩn).

Hỏi về phép thuật chài, ông Nhẽo giãy nảy: “Thất đức! Thất đức! Không nên truyền cho nhau cái thứ hại người ấy. Vì chài nó nguy hiểm lắm. Mấy làng mới có một ma chài. Dân Mường có câu: “Trong chài ngoài mõ”. Người Kinh xa lánh mõ thế nào thì người Mường xa lánh chài thế ấy. Người ta hay dùng sắt để chài. Niệm thần chú vào sắt rồi quệt vào cây mía, quả cam, vại nước. Người bị hại ăn uống những thức ấy, tự khắc trong bụng có sắt thôi”. Về chuyện chài, tôi đã được nghe ông Vũ Đình Hiền, nguyên cán bộ Sở văn hoá thông tin tỉnh Vĩnh Phú (cũ) kể: Năm 1963, ông được dự một lớp học “Chống mê tín dị đoan để đưa miền núi tiến kịp miền xuôi” do huyện uỷ Thanh Sơn tổ chức, ông Cao Đức Chính, thường vụ huyện uỷ phụ trách. Đợt ấy, huyện phát động phong trào nhân dân tố giác những người biết chài, nèm để bắt đến lớp học tập, cải tạo. Có một người đàn bà ở xóm Đồng Cỏ, xã Thục Luyện đã chài, hại một anh thanh niên Mường làng Cự Thắng, lấy vợ ở Thục Luyện. Khi bị phát hiện, người đàn bà độc ác ấy bỏ trốn về xã Giáp Lai. Công an huyện do ông Đinh Liên Đàm chỉ huy đã truy tìm bắt về huyện. Trước công an điều tra, mụ đã thú nhận làm chài sắt hại anh thanh niên nọ. Song mụ chỉ biết chài theo gia truyền chứ không biết cách giải, trong khi bệnh tình của anh thanh niên Mường ngày càng nguy kịch. Một ông già Mường ở Cự Thắng, thấy vậy, yêu cầu lãnh đạo huyện và xã viết cam kết không bắt ông đi cải tạo, ông sẽ chữa chài trước mắt mọi người. Ông Hiền kể: “Tôi thấy ông già bưng ra một chậu thau nước lã, một cái chày, một dùi gỗ. Viết bùa, thắp hương, đọc thần chú xong, ông dán bùa vào chày gỗ rồi để vào bụng anh thanh niên nọ, vung dùi đập đánh “bốp” một cái. Anh kia kêu hét lên, hai tay ôm ngực. Ông già lại để chày lên ngực, đập tiếp một phát. Anh kia lại hét, giơ tay ôm cổ. Khi ông già đập vào cổ, anh thanh niên ngã vật xuống. Một cái đinh mười phân bọc trong mảnh vải váy đàn bà, cuộn bên ngoài bằng chỉ ngũ sắc, bật ra khỏi mồm. Vài hôm sau, lại đi nương đi rẫy.

Đêm ấy, mãi 12 giờ đêm, tôi mới đi ngủ. Phần vì mệt, phần vì khuya, tôi thiếp đi lúc nào không biết. Bỗng nghe tiếng “phì, phì” như tiếng rắn hổ mang phun ở ngay trên đầu, tôi choàng tỉnh giấc, he hé mắt nhìn. Trong ánh đèn dầu leo lét, tôi thấy bóng hai người đàn ông chụm đầu vào nhau. Tiếng Mường lầm rầm như từ cõi âm ty vọng đến. Căng mắt nhìn, tôi nhận ra ông Nhẽo và một người đàn ông lạ mặt. Anh kia đến xin nèm. Tiễn khách ra cửa, ông Nhẽo trở vào. Tần ngần một lát, ông cúi xuống thu gọn túi xách, giấy bút, máy ảnh, máy ghi âm… tôi vứt tanh bành lúc tối. Cả bộ quần áo ướt sũng mồ hôi và nước suối tôi lội hồi chiều. Tay vuốt vuốt vào ống quần tôi, ông khẽ khàng treo lên mắc. Tôi nằm im, nín thở. Một ý nghĩ kinh hoàng chợt đến: ông Nhẽo đang nèm tôi. Thì vừa nãy, ông chẳng khoe có những 10 vợ, 18 người con, gần 40 đứa cháu là gì? Lại khen tôi đẹp giai, đức độ, ăn nói có duyên… Cớ gì ông không nèm tôi cho một cô cháu gái nào đó? Tóc tôi dựng ngược. Tim tôi nghẹn lại. Mắt tôi thao láo. Sáng hôm sau, ngồi bỏm bẻm nhai bánh rán, uống nước chè tươi với ông, tôi mới bật cười. Đúng là “thần hồn nát thần tính”.

Trên đường trở lại thị trấn Thanh Sơn, tôi rẽ vào Tân Phú thăm anh Hoàng Bá Tân để hỏi về phép thuật nèm chữa bệnh mà anh đã đi báo cáo ở Hội nghị y học dân tộc tỉnh Phú Thọ. Rất tiếc, anh Tân đi vắng. Song bù lại, tôi lại được tiếp kiến ông cụ thân sinh ra anh, ông Hoàng Bá Huân, nổi tiếng về làm nèm. Ông Huân năm nay bước sang tuổi 76 nhưng còn tráng kiện, sung sức lắm. Vợ ông ít hơn vài ba tuổi, trông dáng người, nước da, chắc xưa cũng phải là cô gái Mường xinh đẹp. Tôi hỏi ông Huân: “Bác gái đẹp thế, ngày xưa, bác có phải dùng nèm mới lấy được không?”. Ông Huân cười xua tay: “Không! Làng Mường có nhiều người biết nèm thì khó dùng trò ma ấy. Lộ chuyện ra sẽ bị nhà cô gái đánh cho vỡ mặt”. Bà Huân xởi lởi: “Tôi thích ông ấy thì lấy làm chồng thôi chứ chẳng phải ai chài nèm gì đâu”. Rồi bà kể chuyện hồi trước, nhiều đoàn công nhân đến ở đây bị người Mường nèm trêu nấu cơm không chín, nấu nước không sôi. Mọi bài nèm đều đọc bằng tiếng Mường. Riêng bài nèm này lại nói bằng tiếng Kinh. Nguyên văn như sau: “Mày làm đồng hay mày làm đáy. Tao xó xáy cho mày không lên hơi. Mày lên hơi thì tao chém. úm ta ha khất”. Muốn cho cơm chín thì niệm thần chú: “Mày làm đồng hay mày làm đáy. Tao xó xáy cho mày lên hơi. Mày không lên hơi thì tao chém. úm ta ha khất”. Bà Huân giảng giải: “Người ta nín hơi đọc thần chú rồi phì hơi ra mảnh đóm, vờ vào bếp xin lửa nhưng khua khoắng mảnh đóm quanh nồi và dưới chôn nồi. Lửa dẫu có đốt đùng đùng cơm cũng chẳng chín được”. Tôi ngỏ ý muốn xem ông bà biểu diễn. Ông Huân cười: “Thôi, để hôm nào bác biểu diễn cho anh xem bài nèm ráo ướt. Khi ở trên bờ niệm thần chú thì người chống bè, bơi thuyền chốc chốc lại ngã ùm xuống sông, làm cho quần áo vừa ráo lại ướt ngay”. Rồi ông hào hứng kể chuyện làm nèm để bó lại một số cặp vợ chồng khỏi bị tan vỡ. Ông kể chi tiết chuyện anh Khê ở Tân Phú đã có với vợ những 4 mặt con. Tí tởn thế nào lại cưới thêm cô vợ lẽ, suốt ngày òm ọp đánh chửi vợ con. Cụ Bằng ở xóm thấy thế đến nhờ ông Huân “bó” lại cho gia đình họ đoàn tụ. Hẹn một ngày anh em nhà ấy ăn uống họp gia đình để lựa lời khuyên nhủ, chị dâu anh Khê kín đáo giấu 3 đôi đũa của vợ cả, vợ hai và của anh Khê vừa ăn xong không rửa đưa cho ông đem về bó nèm. Ông còn kể chuyện bó nèm cho vợ chồng anh Dũng ở xóm Mịn. Nghe xong, tôi hỏi: “Cháu sẽ viết báo nêu tên thật của họ, liệu có bị kiện không?” Ông Huân cười xoà: “Cả làng biết đấy, kiện gì. Hơn nữa, bác làm phúc đức cho gia đình họ. Bây giờ trong ấm ngoài êm, hiểu ra, họ chỉ biết ơn bác thôi”. Bà Huân vội nói chen vào, giọng lo lắng: “à! Suýt nữa thì quên. Hôm trước đến đám ma nhà anh Thọ. Bà Xuân gọi tôi ra nói nhỏ là về nhờ ông, nếu “nèm tơm thăm” hay “nèm bó đũa” thì làm ơn cởi giúp kẻo một người chết thì cả nhà chết theo”. Ông Huân bảo: “Không sao. Nhà bà Xuân, mẹ anh Huy ở xóm Quyết Tiến, tôi nèm bằng muối không sợ nguy hiểm như bó đũa, tơm thăm nên không phải cởi”. Nói đoạn, ông liền bảo Thuỷ, cậu con út vào buồng mở hòm lấy ra bó đũa cho tôi xem. Đây là 2 đôi của vợ chồng anh Dũng nhờ ông nèm hồi năm ngoái. Bốn cái đũa được bó bằng hai mối buộc chỉ đỏ và chỉ trắng. Ông Huân giải thích: “Muốn nèm bó đũa phải dùng hai loại chỉ khác màu bó chặt đôi đũa ăn cơm của những người đang “ông chẳng bà chuộc”. Bó đũa ấy phải đem về nhà mình cất kỹ. Sau 3 năm khi vợ chồng đã khăng khít, phải đem bó đũa đó ra niệm thần chú bài “ké nèm” (giải) rồi tháo chỉ cho đũa rời ra. Có như thế thì một người chết, người kia sẽ không hề hấn gì”. Còn “nèm tơm thăm” là lấy được mảnh áo hoặc quần của 2 người đã mặc, niệm thần chú vào rồi cất kỹ. Đây là cách nèm khá bền chặt nhưng cũng khá nguy hiểm. Lời bài chú rất dài, người khoẻ, đọc một hơi mới hết. Khi vợ chồng đã gắn bó, để tránh nguy hiểm, phải nèm cởi ra. Đọc lời chú bài ké nèm, hà hơi vào 2 mảnh vải, đem ra sông, suối, chỗ nước quẩn, rồi thả một mảnh ở dòng nước chảy xuôi, một mảnh ở dòng nước chảy ngược. Hai mảnh vải cuốn đi hai nơi sẽ không còn nguy hiểm cho người bị nèm.

Cần sự lý giải về một hiện tượng tâm linh của văn hoá Mường

Trở lại với nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn, người đã có hàng chục công trình nghiên cứu về văn hoá Mường Thanh Sơn. Trao đổi với chúng tôi tại tư thất ở Khu tập thể Di Lâu, thành phố Việt Trì về vấn đề: có hay không sự linh nghiệm của phép thuật nèm chài, nhà văn khẳng định: “Chài nèm là có thật”. Theo “Cổ sử Việt Nam” của Đào Duy Anh thì Vua Hùng chính là người Lạc Việt có nhiều phép thuật, quyền năng, phục được các bộ lạc, làm thủ lĩnh mà xưng là Hùng Vương. Xứ Mường Thanh Sơn, đất bản bộ của Vua Hùng còn in đậm phong tục tập quán, lễ nghi tín ngưỡng, chế độ thổ tù lang đạo, ruộng đất nhà lang…, đặc biệt, những truyền thuyết dân gian về vua Hùng, về Thánh Tản Viên còn rất nhiều. Pháp thuật thần bí của người Lạc Việt mà sử sách thời Trang Vương bên Tàu gọi là phương thuật hay Việt phương nay còn sót lại ở xứ Mường chính là nèm chài, bùa mê ngải lú… Cách đây bốn năm, trong hội nghị giữa nhóm các nhà khoa học của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia với Sở văn hoá Phú Thọ bàn về vấn đề “nghiên cứu văn hoá Mường Phú Thọ”, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã tha thiết đề nghị cần nghiên cứu sớm phương thuật của người Mường để làm sáng tỏ bức màn tâm linh kỳ bí này song rất tiếc, cho đến nay, vẫn chưa ai đoái hoài tới. Riêng tôi, lặn ngụp mấy ngày ở xứ Mường Thanh Sơn để viết phóng sự này, không có ý tuyên truyền về những điều nhảm nhí, mê tín dị đoan… mà đơn giản chỉ là kể một cách trung thực những điều mắt thấy tai nghe đang lưu truyền trong dân gian để các nhà khoa học và bạn đọc tham khảo. Chuyện thuật nèm chài linh nghiệm đến đâu, cần phải tiếp tục nghiên cứu, đối chứng, tìm hiểu trong thực tế…

H.A.S

BÙA NGẢI XỨ MƯỜNG

Phóng sự của Hoàng Anh Sướng

Tôi đã từng nghe người ta kể nhiều về phép thuật nèm, chài (bùa mê, ngải lú) thần bí của những ông thầy mo Mán, Mường trên rừng xanh núi đỏ. Rằng chỉ với một dúm muối, một đôi đũa, một nhành cây…, họ có thể “bó” cho đôi vợ chồng nọ đang đứng trước nguy cơ tan vỡ trở nên quấn quyện, khăng khít như thuở ban đầu. Có thể chia rẽ cặp tình nhân đang say nhau như điếu đổ kia bỗng chốc trở nên hờ hững, lạnh lùng để rồi … chia ly đôi ngả. Thậm chí, chỉ với một chiếc kim, một mảnh sắt quấn sợi chỉ ngũ sắc, họ có thể giết chết kẻ thù địch bằng những lời chú bí hiểm… Để “bảo lãnh” cho tính xác thực của những câu chuyện rùng rợn ấy, có người còn lôi ra những lời thề rất độc địa khiến kẻ tò mò, đa nghi Tào Tháo là tôi cứ nhấp nhổm không yên. Và rồi, mặc cho cơn áp thấp nhiệt đới hoành hành, tôi vẫn xé gió, đội mưa lên xứ Mường Thanh Sơn (Phú Thọ) quyết vén bức màn tâm linh kỳ bí này.

KỲ I: NHỮNG CÂU CHUYỆN HUYỀN HOẶC VÀ HÀNH TRÌNH ĐI TÌM LÁ BÙA YÊU

Buổi trưa hôm ấy, tôi và nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn, người đẫm mình mấy mươi năm trong nền văn hoá xứ Mường Phú Thọ, dùng cơm trưa ở nhà khách UBND huyện Thanh Sơn. Anh Tạ Văn Ngọ, trưởng phòng văn hoá huyện tay rót rượu mời khách, miệng xởi lởi: “Chuyện bùa mê ngải lú tôi cũng nghe nhiều rồi, thực hư thế nào, tôi chưa dám kết luận. Riêng chuyện nèm chữa bệnh cho người và gia súc, nhất là nèm chữa bệnh trâu bò bị dòi bọ, nèm chữa hóc, nèm trừ sâu hại hoa màu… thì tôi tin”. Rồi anh kể: cách đây vài năm, một gia đình cùng xóm với anh có con trâu bị bệnh dòi, chữa bao nhiêu thuốc cũng không khỏi. Chị vợ bèn đến nhà ông thầy mo trong làng nhờ chữa bằng bùa chú. Ông thầy mo ngồi xếp bằng, thủng thẳng hỏi: trâu bị bệnh lâu chưa? loét chỗ nào? rồi bảo “khổ chủ” về đi, về mà nhặt dòi bọ. Chị nọ bán tin bán nghi, chân thấp chân cao chạy. Về đến nhà thì eo ôi, dòi từ vết loét ở cổ trâu nhung nhúc chui ra hàng vốc. Vài ngày sau, lành tịt. Hai vợ chồng sướng rơn, vội vàng sắm sanh chút lễ mọn đến tạ ơn thầy. Chuyện nữa: anh Hoàng Bá Tân, con của “nhà bùa chú” nổi tiếng Hoàng Bá Huân ở xã Tân Phú có những bài nèm chữa một số bệnh hiểm nghèo. Đứt tay chảy máu, nhọt sưng mưng mủ, anh chỉ cầm con dao cùn hà hơi niệm chú rồi chí chí vào đó, vài ngày nhọt to như cái chén xẹp ngay. Mới đây, anh niệm thần chú chữa khỏi bệnh viêm gan nặng cho một người ở làng Hoàng Xá. Nhờ đó, anh được mời đi báo cáo điển hình về cách chữa bệnh bằng phương pháp dân gian ở Hội nghị y học dân tộc tỉnh Phú Thọ.

Nhà văn gầy gò Nguyễn Hữu Nhàn thì nhỏ nhẻ góp một chuyện khá rùng rợn. Chuyện rằng: ông có một người bạn đồng hương quê Tứ Xã (Lâm Thao) dạy học nhiều năm ở xã Lai Đồng (cách Tân Phú 30 km). Một lần chứng kiến một anh Mường có vợ lâm bệnh trọng chết. Thay vì lo ma chay, anh này cứ dí mũi xuống xác vợ… hít lấy hít để. Hỏi dân làng mới biết, anh này vì xấu xí, lại nghèo nên phải nhờ người nèm mới lấy được vợ. Do bỏ bùa mê thuốc lú để lấy cưỡng bức nên khi một người chết thì người kia sẽ phải chết theo do chưa biết hoặc chưa kịp đón thầy đến “ké nèm” (giải bùa chú). Sau này, ông được cụ Hoàng Đức Sin, 80 tuổi, người Mường xã Tân Minh giảng giải thêm rằng: Nếu nèm để lấy vợ mà sống yêu thương nhau thì không sao. Còn nếu nèm để cưỡng bức nhau sẽ bị quả báo tức thì. Vì vậy, khi một người đột tử thì người kia phải hít hơi tử thi cho đến khi thầy đến cởi cho mới thoát.

Cuộc đời cụ Sin là cả một pho huyền sử về phép thuật nèm chài. Cụ vốn là thầy cúng nổi tiếng cả vùng, đã từng được cấp sắc chánh thượng thừa, cấp bậc cao nhất trong nghề thầy cúng. Muốn lên được cấp bậc này phải qua các sắc tiểu thừa, trung thừa, đại thượng thừa và trung thượng thừa. Là người ăn to nói lớn, cụ cứ choang choang kể: “Ngày xưa, bác là cán bộ xã, làm chủ nhiệm HTX nhiều năm đấy. Vì làm cán bộ, không được đi cúng, không được nói đến chài, nèm nên có lão giở trò ma nèm vợ bác, khiến bà ấy bỏ chồng, bỏ con đi theo hắn. Giận quá, bác gọi hắn đến nhà vãi (bố mẹ vợ) vỗ ngực, chỉ mặt hắn: “14 tuổi tao đã là thầy cúng. Mọi pháp thuật người Mường tao không lạ. Nếu ngươi không đón người ké nèm để tao phải ra tay thì chớ có trách…” Kẻ cướp vợ mặt xanh đít nhái quỳ sụp xuống, lạy cụ như tế sao. Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn hỏi: “Thế cụ có giận cụ bà không?” Cụ Sin xua tay cười hớ hớ: “Ô không! Đấy là nó nèm cho mê mẩn mà theo nó thôi. Khi bà ấy về, khóc lóc xin tha thứ, bác không mắng nửa lời, vẫn sống tốt với nhau đến tận bây giờ đấy”. Nhà văn lại hỏi: “Người Mường xưa có thể nèm cho trai gái yêu nhau. Vậy có thể nèm cho nhân tình nhân ngãi, bồ bịch bất chính chán nhau không hả cụ?”. “Được chứ!”. Cụ Sin nói rồi vỗ vỗ vào vai nhà văn: “Hôm nào đến đây bác dạy cho bài ké nèm mà về xuôi cứu nhân độ thế cho vợ chồng không bỏ nhau”.

Tôi ngồi nghe chuyện mà người cứ mê đi. Càng nghe ruột càng nóng như lửa đốt, những muốn có phép thần để bay ngay lên xứ Mường. Bữa rượu vừa tan, tôi vội vã lên xe phóng thẳng. Chặng đường từ thị trấn Thanh Sơn (Phố Vàng) lên Thu Cúc dài chừng 30 km bóng nhoáng, phẳng lỳ. Tay vít ga, mông uốn lượn theo những đường cong mềm mại, tôi cứ mắt tròn mắt dẹt. Sao đường miền núi lại “ngon” thế? Sao tiếng là vùng sâu vùng xa nhất của huyện Thanh Sơn tưởng là xác xơ, tiêu điều mà lắm nhà lô cốt bê tông thế, trên nóc lại còn chềnh ễnh con ăng-ten chảo pa-ra-bôn giá đến vài triệu đồng. Các quán cà phê giải khát mọc san sát. Thi thoảng lại bắt gặp biển hiệu “karaoke” to đoành. Thế mới oách! Thì ra cái “anh” văn minh đã tràn cả lên rừng xanh núi đỏ rồi.

Đến địa phận xã Tân Phú, tôi tạt vào một quán bia hơi bên đường. Cô chủ quán ngực thây lẩy, mông ưỡn ẹo đon đả chạy ra. Trong quán, một tốp thanh niên Mường chừng chục cô cậu đang tíu tít cụng ly, đùa cười rôm rả. Chỉ mất vài câu đưa đẩy, tôi đã trở thành khách quý của họ. Biết tôi có ý định tìm hiểu phép thuật nèm chài, Thuỷ, cô gái Mường có nước da đen giòn với nụ cười hoa tươi tắn lúng liếng bảo: “Anh đến đúng ổ bùa ngải của người Mường chúng em rồi đấy. Đẹp giai thế này, không sợ bọn em bỏ bùa mê cho mất đường về quê mẹ sao anh?”. Tiếng cười ré lên. Cậu thanh niên Mường tên Khoẻ, xã Mỹ Thuận, phô hàm răng bàn cuốc gắt gỏng: “Chúng mày có im đi không! Cứ đùa để anh ấy sợ”. Quay lại phía tôi, Khoẻ trùng giọng: “Nèm chài của người Mường chúng em là có thật, lưu truyền từ đời xửa đời xưa. Mẹ em cũng biết nèm đấy, nhưng cụ chẳng làm bao giờ cả. Cụ bảo, làm cái đó thất đức lắm. Bữa trước, có mấy anh nhà báo dưới Hà Nội lên đây tìm hiểu viết bài. Hỏi han linh tinh vài câu rồi về phịa cả một trang báo dài. Toàn bịa đặt, xuyên tạc cả. Lại còn riết róng tố cáo người Mường chúng em loè bịp, chặt chém khách moi tiền, rồi thì mê tín dị đoan khiến dân tình bất bình lắm. Nếu anh thực sự muốn tìm hiểu phép thuật thần bí này, em sẽ đưa anh đi”. Thấy tôi còn bán tin bán nghi, Khoẻ căn vặn: “Anh chưa tin phải không? Thế em hỏi anh nhớ, đôi vợ chồng nọ vừa chiều qua đánh nhau sứt đầu mẻ trán. Vợ tru tréo chửi chồng, chồng vác dao rượt đuổi vợ, tưởng chém giết nhau đến nơi. Đùng một cái, sáng hôm sau, lại thấy cô vợ hớn hở quay về, ríu rít anh anh, em em như chưa từng có chuyện đánh đấm. Thế không nèm thì là gì? Hay như cô S. Thị Nở ở cầu Mịn kia kìa. Xấu người, lại xấu cả nết. Lấy chồng, đẻ được 2 đứa con gái, chồng chán, nó bỏ. Thế mà anh Tuấn, chủ thầu xây dựng dưới Hà Nội, đẹp trai, lắm tiền, vợ đẹp như tiên, lại chết mê chết mệt S. Hai đứa ăn ở với nhau như vợ chồng. Năm ngoái, lại còn bỏ tiền xây dựng cho S. một ngôi nhà 2 tầng thênh thếnh ở mặt đường. Chuyện này, cả huyện Thanh Sơn biết. Em hỏi anh, thế không phải nèm thì là gì?”. Tôi gật gù lia lịa. Khoẻ hứng chí bảo: “Kể tên những người biết nèm ở đây thì đầy dẫy. Này nhé: Bà Nhàn ở xóm Bưng (xã Minh Đài), thầy mo Thục, thầy Cửu, thầy Thắng, bà Phúc, bà Chối, bà Miến ở Mỹ Thuận, thầy Hà Văn Bày ở thôn Mai Thịnh (xã Địch Quả), ông Hà Văn Bằng, ông Hoàng Bá Huân ở Tân Phú… Ôi dào! Nhiều lắm! Nhưng theo em, nổi tiếng nhất vẫn là thầy mo Thục. Thầy cao tay lắm. Ngày nào cũng có người đón thầy đi cúng giải hạn, cúng đàn chay phá ngục cho những nhà chết trùng tang, làm bùa ghét, bùa yêu… Đùi gà gia chủ lễ tạ, cả nhà thầy ăn chẳng hết. Hôm nọ, vợ chồng anh Tân ở Mỹ Thuận có đôi lợn nái xổ chuồng, táo tác đi tìm cả ngày chẳng thấy. Bí quá mới đến nhờ thầy Thục. Ông Thục nhận lời, thắp hương, khấn vái rồi đi bộ lên trên dãy núi Cụt trước mặt anh kia kìa. Ông ấy lầm rầm đọc thần chú rồi hú lên mấy tiếng. Ngay chiều hôm ấy, đôi lợn ở đâu ủn ỉn mò về. Chuyện này, cả làng đồn rầm rĩ, em không nói sai”. Tôi sốt sắng hỏi đường đến nhà ông Thục để xin lá bùa yêu. Khoẻ bảo: “Anh là người lạ, đến nhà, thầy không làm đâu. Để em dẫn đường cho”. Tôi sướng rơn, luýnh quýnh thế nào bỏ quên cả mũ bảo hiểm ở quán.

Nhà thầy mo Thục nằm chon von trên lưng chừng đồi. Trời mưa, đường trơn nhầy nhụa, xe cài số 1, ì ạch mãi mới lên đến nơi. Căn nhà gỗ, lợp mái gianh, rộng thênh thếnh như cái đình, ồn ào tiếng nói cười. Ngày mai, cậu con út của thầy vào Nam lập nghiệp, gia đình làm bữa liên hoan. Thầy không có nhà. Vợ thầy bảo: Thầy ra chợ thị trấn mua “canh” (thức ăn). Tôi ngồi chờ. Anh con trai cả tủm tỉm: “Chú đến đây là đúng địa chỉ rồi. Yên tâm đi. Bất cứ chuyện gì cần, thầy cũng có thể giúp chú được”. Rồi anh kể, có một cậu thanh niên ở tận Sơn Tây, vợ bỏ đi theo giai, lên khóc lóc van vỉ nhờ thầy cứu giúp. Thầy nhận lời, làm cho một lá bùa. Ba ngày sau, cô vợ trở về. Anh chàng mừng rơn. Cảm tạ tấm lòng của thầy, anh đã biếu thầy 3 triệu. Tháng nào anh ta cũng lên đây một lần để thầy yểm bùa cho tình cảm vợ chồng thêm bền chặt. Mới đây, có một bà tận Gia Lai – KonTum lặn lội ra đây. Chồng làm giám đốc, bồ bịch lăng nhăng. Bà vợ đánh ghen, chửi bới, rồi khóc lóc, nỉ non… đủ hình đủ kiểu mà anh chồng vẫn chứng nào tật ấy. Nhờ bùa của thầy tôi, cô ấy đã giành lại được chồng. Hôm kia, cô ấy gửi biếu thầy tôi 5 triệu nhưng thầy chỉ nhận 3 triệu thôi. Cụ cao tay lắm”.

Khoảng 5 giờ chiều, thầy Thục mới về. áo trắng, quần âu, trông thầy phong độ lắm so với cái tuổi thất thập. Bắn một điếu thuốc lào, lim dim nhả khói, thầy hất hàm: “Anh từ đâu tới? Có việc gì?”. Tôi liền giả bộ rầu rĩ: “Con là thầy giáo dạy văn dưới Hà Nội. Vợ con đang lăng nhăng với người khác. Con muốn xin thầy một lá bùa để kéo vợ con về”. Thầy cười khùng khục: “Anh nói thế nào ấy chứ. Trông anh đẹp giai lồng lộng, lại hào hoa thế kia, vợ bỏ theo giai sao được”. Tôi rơm rớm nước mắt, van vỉ: “Bẩm thầy! Con đâu dám nói dối. Xin thầy mau ra tay giúp con, thầy cứu con không thì con chết mất”. Miệng nói, tay rút tờ năm chục, tôi dúi vào tuí thầy. Bộ mặt tôi lúc đó trông chắc thảm thương lắm nên thầy hạ giọng: “Thôi được rồi, thầy sẽ giúp. Bây giờ, anh ghi tên tuổi của anh và vợ anh vào tờ giấy này. Nhớ phải ghi thật chính xác, nếu không bùa sẽ mất linh”. Ngừng lời, chiêu một ngụm nước, thầy chép miệng: “Gớm! Các cô cậu dưới ấy bây giờ no lưng ấm cật nên giậm giựt chân tay. Ngoại tình, bồ bịch khiếp quá. Chẳng riêng gì anh đâu. ối người làm giám đốc, vụ trưởng mà vẫn cứ bị vợ cắm sừng cho như chơi ấy chứ. Đấy, vừa chiều qua, một cô sồn sồn tô son trát phấn, người núc nỉu những nhẫn, dây chuyền đến cầu xin tôi làm nèm cho… 4 ông bồ không ông nào được rời ra. Dâm đãng đến thế là cùng”. Đang cặm cụi viết, tôi cũng phải bật cười cùng tiếng ồ lên của mấy chục con mắt đang tò mò nhìn tôi từ nãy đến giờ.

Đón nhận tờ giấy trên tay tôi, thầy Thục khẽ khàng đặt lên ban thờ. Rót đầy ba chén nước, thắp ba nén nhang, thầy phủ phục xuống phản lầm rầm khấn. Gieo quẻ xong, thầy sai bà Thục ra vườn hái mấy cái lá và xúc bát muối lên cho thầy. Quay mặt về phía ban thờ, thầy bắt đầu niệm chú. Cả nhà im phăng phắc. Tôi cố tập trung cũng không nghe được gì, chỉ thấy môi thầy mấp máy như máy khâu. Khuôn mặt thầy đỏ bừng như lên đồng. Niệm xong, thầy đưa nhúm lá và bát muối lên sát miệng, hà hơi 3 lần vào đó. Đưa tôi “bùa yêu” đã được gói ghém cẩn thận, thầy dặn: “Nhúm lá này anh về chia làm đôi. Một để trong gối anh, một để gối vợ. Còn gói muối, hàng ngày nấu canh, anh cứ cho vào, cả nhà cùng ăn. Đảm bảo chỉ một tuần sau, vợ anh sẽ hết tơ tưởng lăng nhăng đến người khác”. Tôi cúi đầu cảm tạ và cáo từ ra về. Trời nhập nhoạng tối. Biết tôi lên xóm Dùng, xã Thạch Kiệt, cách Mỹ Thuận chừng 7km, anh con cả thầy Thục gàn: “Chú đừng đi đến đấy. Đường xá xa xôi, cách trở. Chú cứ nghỉ lại đây với anh, sáng mai đi cũng chưa muộn”. Cả nhà thầy Thục xúm lại mời nhưng tôi vẫn kiên quyết đi. Bởi ở Thạch Kiệt, có một người mà như nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã căn dặn tôi hồi trưa: “Muốn biết tường tận về nèm chài, anh phải gặp cho được ông Hoàng Văn Nhẽo, xóm Dùng, xã Thạch Kiệt. Chỉ có ông ấy mới có thể giúp anh vén bức màn tâm linh kỳ bí này”.

KỲ II: DIỆN KIẾN “NHÀ BÙA CHÚ” CÓ … IO VỢ VÀ NHỮNG KHÁM PHÁ THÚ VỊ VỀ THUẬT NÉM CHÀI

CÂU … XÁC NGƯỜI TRÊN SÔNG ĐÀ

Phóng sự của Hoàng Anh Sướng

Chiều hôm ấy, trời bất chợt nổi giông. Mây đen ùn ùn kéo tới. Gió ràn rạt thổi, cuốn cát bụi mịt mù. Mưa sầm sập đổ. Tôi tạt vội vào quán cà phê bên đường. Chị chủ quán, trong lúc cám cảnh vì vắng khách đã thao thao kể cho tôi nghe về những cái chết rùng rợn, thảm thương trên dòng sông Đà cuộn sóng. Có người chết đuối vì sảy chân. Có người vì hận tình, đời lâm vào ngõ cụt mà rắp tâm trẫm mình xuống dòng nước bạc. Lại có cái chết đầy bí ẩn, nhuốm màu tội phạm… Câu chuyện vô tình kể về những chuyến câu xác người của những ngư dân làng chài Vạn. Để rồi cơn mưa vừa dứt, tôi vội tìm đường xuống chân cầu Hoà Bình, gặp những ngư ông cả đời lênh đênh sông nước làm cái nghề “trần đời có một” vừa rùng rợn, vừa nhân đạo ấy: nghề câu xác người.

lang-van-chai-tren-song-da

Làng chài ven sông Đà.

Kỹ nghệ… câu xác người

Cuối cùng, tôi cũng đã có mặt trên khoang thuyền của gia đình ông Ngô Văn Binh, tổ trưởng tổ vạn chài, xóm của 23 hộ ngư dân nằm khép mình dưới chân cầu thị xã Hoà Bình ấy. 51 tuổi, nước da bánh mật, người chắc lẳn như một chú cá kình, ông Binh nổi tiếng cả xóm Vạn chài về tài chài lưới. Ông quê tít tận dưới cầu Trung Hà, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Nhà ông mấy đời gắn với nghiệp sông nước. Ngay từ thời còn là một cậu bé cởi truồng tồng ngồng ôm cây chuối đánh bồng ùm ùm trên dòng sông Tích, ông Binh đ• được cha cho ngồi chung thuyền, lầm lụi trong mưa giăng và gió lạnh thả văng câu. Sau này, lớn lên, trở thành một chàng trai Vạn chài cường tráng, ông lại cùng những người bạn làng chài tự nguyện vác “đồ nghề” đi câu xác mỗi khi có người phận bạc sảy chân chết chìm sông, lạc suối. Hơn ai hết, ông hiểu và thấm thía một cách đau đớn cái nghề trần gian có một ấy, cái nghề không có… trong danh mục các nghề.

Đập đập vào vai tôi một cách thân mật, Ông Binh cười bảo: “ở cái dải đất hình chữ S chằng chịt sông ngòi ao hồ này, ngày nào chẳng có người chết đuối. Chỗ nào chẳng có những ngư ông sẵn sàng chấp nhận hiểm nguy, dãi dầu sương gío đi câu xác người. Hà cớ gì chú phải lặn lội lên tận đây để tìm hiểu về cái nghề mà người đời vừa kinh, vừa sợ này cho khổ”. Sau lời nói đầy vẻ khiêm nhường ấy, ông Binh xoa xoa hai bàn tay sần sạn, trùi trụi, cười khì: “Nhưng nói vậy thôi, không phải dân chài nào cũng đủ tâm, đủ tài mà đi “câu” được đâu. Thứ nhất, phải là người có tài sông nước. Mọi quy luật khắc nghiệt của con nước, nhất là vào mùa nước nổi, anh phải am tường. Những khúc quanh, độ nông sâu của dòng chảy, anh phải nắm rõ như lòng bàn tay. Thứ hai, anh phải có cái “tâm” với người chết và với cả người đang sống. Chữ “nhẫn” anh phải đặt lên hàng đầu. Bởi rà xác không giống như đi rà cá. Cá thì có vô vàn. Không bắt được con cá to thì bắt được cá bé. Xác thì chỉ có một. Phải dò cho ra. Trong khi dòng chảy thì dằng dặc miên man, sóng nước thì mênh mang điềm điệp muôn trùng, biết xác đâu mà tìm. Cái chuyện giong thuyền giăng câu dò tìm hết ngày sang đêm, lần mò từ sông ra cửa biển mà xác người xấu số vẫn biệt vô tăm tích là lẽ thường tình. Thử hỏi, không có lòng kiên nhẫn, anh có bỏ cuộc không? Thứ ba, đương nhiên anh phải có bộ lưỡi câu đặc chủng và sử dụng nó thành thạo. Thứ ngư cụ đắt tiền này thường những bậc lão luyện trong làng chài mới có. Nó bao gồm 250 – 300 lưỡi câu to như nan hoa xe đạp, mũi nhọn, sắc, ngạnh dài, xếp cách nhau chừng 10 – 15 cm, được kết nối bằng hệ thống dây dù dài. Phía trên lưỡi câu, người ta buộc những hòn đá to như nắm tay, dân chài gọi là “con dòi”, giúp cho hệ thống dây văng có thể chìm sát đáy sông, dù đáy sông nông sâu, mấp mô hầm hố như thế nào. Để các lưỡi câu lúc nào cũng ở tư thế đứng, cần có thêm một sợi dây nữa, nằm song song với sợi dây văng, trên đó buộc chi chít các phao nhỏ, nổi thành hàng dài, cách đáy sông chừng 15 cm, sao cho khi con dòi dùng sức nặng của mình dìm toàn bộ lưỡi câu xuống đáy thì các phao sẽ giữ cho chúng ở tư thế sẵn sàng móc vào bất cứ vật gì, dù chỉ khẽ khàng chạm phải. Thứ văng “câu người” này sắc lẻm và chắc khoẻ đến mức những chú cá nặng 20 – 30 kg vô tình va nhẹ vào lưỡi thì đừng hòng vùng vẫy thoát khỏi.

ong-binh

Ông Ngô Văn Binh đang giở bộ câu văng “khoe” với chúng tôi

Ông Binh bảo, nghề câu xác người có nhiều điều kiêng kị rất huyền bí mà khoa học không thể giải thích được. Ví như không được cho người ruột thịt của kẻ xấu số ngồi chung thuyền khi đi rà xác. Việc tìm thấy xác sẽ rất khó. Khi vớt được xác kẻ mệnh bạc mang lên bờ, người cùng huyết thống tuyệt đối không được có mặt. Nếu không, máu đen từ mũi, từ miệng xác chết sẽ ộc ra như… tháo cống. Hệ quả của những chuyện “phạm huý” như thế, ông Binh đã gặp nhiều rồi. Đã nhiều lần ông cố lý giải song bề dày kinh nghiệm mấy mươi năm của ông cũng chẳng thể làm sáng tỏ được điều gì. Chỉ biết rằng, bài học đầu tiên mà người cha truyền dạy cho con khi vác văng câu đi rà xác người là phải thế.

Ngót 50 năm gắn với nghiệp sông nước, ông Binh không thể nhớ nổi mình đã tìm được bao nhiêu xác người từ chốn long vương thuỷ quái. Nhưng nỗi ám ảnh từ những chuyến đi tìm kiếm hàng ngàn số phận buồn thương ấy khiến đêm đêm ông cứ thảng thốt giật mình. Ông nhớ như in hành trình tìm kiếm xác của ngót chục cô cậu học trò trường dân tộc nội trụ tỉnh Hoà Bình cách đây chừng 7 – 8 năm. Chuyến đò định mệnh đưa các em qua sông đận mùa lũ đã vĩnh viễn cướp đi sinh mạng của bác lái đò, người đàn bà mang thai và ngót chục trẻ em sức yếu phận mỏng, trong đó có cả cháu ông Binh. Cái tin đau lòng ấy đến với ông hơi muộn. Gạt nước mắt trong buổi chiều mưa nhạt nhoà đùng đoàng sấm chớp, ông cùng bạn chài lặng lẽ lên thuyền rải văng. Lần thứ nhất, thấy dây văng trĩu nặng. Ông run run kéo lên. Xác 3 cháu bé nổi oà trên mặt nước. Cặp sách vẫn còn khoác trên vai. Lần rải văng thứ 2, được thêm 2 cháu. Xác nhuốm đỏ phù sa. Lần thứ 3, được một. Nhưng đến lần thứ 4, thứ 5, thứ 6 chỉ thấy mưa dai và gió lạnh lòng. Ông âm thầm đi khắp các bến đục dòng trong ròng rã suốt 3 ngày 3 đêm mà sóng nước vẫn mịt mù nỗi u hoài thê lương. Con nước mùa lũ ùng ục réo quặn xiết. Dòng Đà giang dài dằng dặc, lại lắm khúc quanh. Xác cháu ông cùng 5 người bạn của nó mãi mãi chìm sâu trong lòng nước bạc. Đó là nỗi đau của đời ông. Đó cũng là nguyên do khiến ông năng làm việc nghĩa cứu người.

Ông cũng nhớ lắm buổi chiều 30 Tết năm Quý Dậu. Đôi trai tài gái sắc Phong và Điệp yêu nhau mà không lấy được nhau đã đứng trên cầu Hoà Bình, tự trói chặt nhau bằng sợi dây chão rồi gieo mình xuống dòng nước hiểm. Chiều hôm ấy, mặc dầu cái Tết đã kề cận, mặc cho cái rét đến buốt lòng, ông cắn chặt hàm răng lặng lẽ bơi thuyền trong khói sương mờ mịt rà tìm xác. Rà mãi. Rà mãi. Xuôi dòng sông Đà chừng 6 km thì vớt được. Đôi tình nhân vẫn xiết chặt nhau trong bện dây thừng. Mái tóc xuân thì của Điệp xoà kín mặt, quấn lấy cổ Phong. Ông buộc dây kéo vào đôi cánh tay vô hồn, lạnh lẽo của đôi trai gái. Con đò nhỏ nhuốm màu tang lặng lẽ trở về trong đêm giao thừa lạnh lẽo. Mưa và nước mắt cứ chảy dài trên khuôn mặt tím tái của ông.

Tôi hỏi ông Binh: “Làm nghề câu xác người, ông có thấy sợ không?”. Sau một thoáng trầm ngâm, ông Binh bảo: “Nỗi sợ “tâm linh”, sợ bị Hà Bá trả thù như người đời vẫn đồn đại thì không. Nhưng cái sợ rất “đời”, cái sợ của con người nói chung khi đối diện với những cái chết thảm thương thì có đấy. Thú nhận với chú, đi rà xác người chết đuối dễ có đến cả ngàn lần rồi, vậy mà mỗi khi thấy dây văng nằng nặng, căng căng là bàn tay tôi vẫn thấy run run. Rồi khi bồng bềnh một mái tóc lơ phơ, rã rượi, xác chết trương phềnh nổi oà trên mặt nước trong buổi chiều chạng vạng là da gà tôi nổi lên, tóc gáy dựng ngược. Bao nhiêu năm rồi, bao nhiêu lần rồi mà tôi vẫn không quen được. ở cái làng chài này, chỉ duy nhất có một người không biết sợ khi lặn ngụp hàng tiếng đồng hồ dưới đáy sông lần mò tìm xác, không biết run tay khi ôm xác chết vào bờ. Đó là ông anh họ tôi, ông Ngô Văn An, người được cả làng chài tôn sùng là “ông vua” mò xác..

Diện kiến “ông vua” mò xác và câu chuyện rùng rợn không nên kể về đêm

ong-binh-va-ong-an

Ông Binh (bên phải) và “ông vua mò xác” Ngô Văn An

Tôi ngỏ ý muốn gặp ông “vua mò xác”, ông Binh bèn cho cậu con cả tên Viên đi gọi. Chừng 10 phút sau, đã thấy tiếng mái chèo khua nước ì oạp. Khoang thuyền tôi đang ngồi chợt chòng chành, nghiêng ngả. Chưa kịp hoàn hồn đã thấy dáng người lừng lững của “ông vua” vớt xác Ngô Văn An choán lấp cửa khoang thuyền. Nắm chặt tay tôi lắc lắc, ông An cười hỉ hả: “Chà! Hôm nay lại được nhà báo tìm đến hỏi chuyện viết bài thế này. Thật quá vinh hạnh”. Rồi chẳng chờ tôi đặt câu hỏi, ông An cứ ào ào nói, vẫn cái giọng nằng nặng của vùng sông nước Ba Vì: “Đúng là cả cái làng vạn chài này, chỉ duy có mình tôi dám lặn xuống đáy sông tìm xác. Tôi vốn là bộ đội đặc công nước thời chống Mỹ, theo gia đình chú Binh lên đây được hơn 20 năm rồi. Có sức khoẻ, lại có tài bơi lội nên tôi bỏ nghề chài lưới, sắm sanh bộ đồ lặn kiếm sống dưới đáy sống. Đáy sông là nơi người ta bỏ mọi thứ trên đời nhưng với tôi, đó là cánh đồng màu mỡ nuôi dưỡng cả gia đình. Dưới ấy có thứ gì, tôi nhặt hết. Từ những mẩu dây cáp, sắt thép phế liệu, những súc gỗ dạt từ thượng nguồn đến con cá mắc lưới… Ngày nào tôi cũng lặn. Mỗi lần 2- 3 tiếng đồng hồ. Có lần lặn chỗ sâu quá, dễ đến 16m, lúc lên bờ máu mồm máu mũi ộc cả ra. Tôi “lang thang” dưới đáy sông được 17 năm rồi nên đoạn sông Đà chảy qua thị xã Hoà Bình này, tôi thuộc như lòng bàn tay. Nhiều người bị chết đuối, không rà được xác, thân nhân họ đều nhờ tôi lặn tìm cả. Chú bảo tôi có sợ không à? Quen rồi. Thời chống Mỹ, tôi từng chứng kiến nhiều cái chết rùng rợn hơn nhiều. Tuy nhiên, có đúng một bận mà bây giờ mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn thấy chóng mặt, buồn nôn. Chú có muốn nghe không? Có à? Nhưng cấm được sợ đâu đấy nhé”. Ngừng lời, nâng ly rượu quốc lủi, ngửa cổ làm một tợp, ông “vua vớt xác” khẽ bật lên tiếng “khà” rồi ghé sát tai tôi thì thào kể, giọng trầm trầm nghe gơn gởn: “Chuyện xảy ra cách đây chừng 5 năm rồi. Vì hận tình, anh Vũ Văn Trường, 42 tuổi, người thị xã Hoà Bình đã trẫm mình xuống Bến Gai tự vẫn. Gia đình đến cầu khẩn tôi đi mò xác. Tôi vẫn nhớ, đận ấy vào tháng Giêng, trời rét cắt da cắt thịt. Cứ lặn chừng 15 phút, tôi lại phải ngoi lên bờ đốt sưởi đùng đùng. Bến sông thì sâu, nước lại chảy xiết, mò mãi vẫn không tìm được xác. Cuối cùng, phải nhờ một nhà ngoại cảm dưới Hà Nội tìm hộ. Nhà ngoại cảm phán: xác vẫn còn ở bến Gai, nằm dưới độ sâu chừng 8m. Một phần chán bị vỡ do va đập vào đá. Ba hôm nữa, vào khoảng 12h đêm, xác sẽ nổi. Quả đúng như dự đoán của nhà ngoại cảm, 3 ngày sau, xác anh Trường nổi lên đúng vào chỗ khúc quanh của dòng sông. Dưới ánh trăng suông, bồng bềnh một xác người trương phềnh, mọng nước, bốc mũi khăn khẳn. Không ai dám ra vớt. Cả nhà lại phải đến cầu cạnh ông vua vớt xác Ngô Văn An. Ông An nhớ lại: “Lúc tôi bơi ra, gà đã nheo nhóc gáy. Nước sông rét buốt cứa xương. Giơ tay tóm lấy mái tóc nổi lơ phơ, rã rưỡi, bỗng bàn tay thấy nhẹ hẫng. Mảng tóc bượt bong khỏi đầu xác chết. Tôi nhoài người túm lấy cổ tay xác chết. Chợt giật thót mình: Cổ tay nhùn nhũn, núng nính, trương phềnh như bắp chân của người béo phì. Mùi thum thủm, khăn khẳn… đập mạnh vào mũi khiến tôi nôn oẹ. Khó khăn lắm tôi mới đưa được xác chết lên bờ”.

Lúc khâm liệm, xác anh Trường không thể cho vừa quan tài. Ông lấy sức vạn chài, ấn mạnh. Chiếc quan tài vỡ toác. Sau, người nhà phải đi thửa một chiếc áo quan thật lớn, có đai bằng thiếc để tránh bị bật nắp. Về nhà, ông lăn đùng ra ốm. Hết sốt nóng lại sốt rét. Ngửi đâu cũng thấy mùi tử khí. Bưng bát cháo lên, lại thấy mùi thum thủm, khăn khẳn. Thế là lại nôn oẹ. Trận ốm ấy kéo dài đến hơn một tháng. Chừng nửa năm sau, ông mới hồi lại người.

Và nỗi niềm của những đời sông nước

Chuyện về những chuyến đi mò xác người của ngư ông Ngô Văn An tưởng sẽ không có hồi kết nếu tôi không lỡ lời đưa ra một câu hỏi “chết người”: “Có phải dân vạn chài các bác chỉ vớt những xác chết đuối còn những người trượt chân vừa “giã gạo”, vừa kêu cứu giữa dòng thì các bác lại làm ngơ vì sợ Hà Bá trả thù đúng không ạ?”. Ông An đang thao thao kể tôi nghe về chuyến vớt xác hãi hùng đêm ấy bỗng ngưng bặt. Mặt ông từ đỏ lựng chuyển sang tím tái. Mắt ông vằn lên. Hai thái dương giật giật. Còn ông Binh, đang ngồi bó gối chăm chú nghe ông anh kể chuyện từ nãy đến giờ, bỗng nổi khùng, giọng đầy uất ức: “Tôi biết ngay mà. Thể nào các người cũng hỏi tôi câu hỏi ấy. Có người còn phũ miệng bảo: chúng tôi nhẫn tâm quay lưng trước cái chết của đồng loại vì coi đó là cách tạo may mắn cho đời mình. Khốn nạn! Dân chài chúng tôi tuy cơ hàn thật nhưng cũng là con người. Chúa ban cho trái tim biết yêu thương. Có hoạ là súc vật mới dửng dưng trước cái chết của đồng loại. Như tôi với ông An đây. Suốt 20 năm kiếm sống trên con sông hiền lành và dữ tợn này, chúng tôi đã cứu vớt hàng trăm người thoát khỏi vòng thuỷ quái, bất chấp hiểm nguy trước con nước dữ dội và quyết liệt. Chúng tôi làm vậy là vì cái nghĩa, cái nhân, chứ đâu phải vì chút lợi lộc từ sự hậu tạ của người đời. Thế mà nhiều người bạc lắm. Cứu họ rồi, leo tót lên bờ, họ quày quả bỏ đi không thèm nhìn lại thêm một lần con nước hiểm, cũng chẳng thèm cảm ơn ân nhân vừa cứu mạng lấy một nhời. Tệ hơn, nhiều kẻ còn săm soi những chuyện rủi ro trong gia đình chúng tôi rồi xì xầm loan tin: Đó là sự “ứng báo” do hành động “cướp cơm” của Hà Bá. Đấy, cái đận đứa cháu tôi chết đuối mất xác ấy, người ta bảo rằng đấy là đòn trừng trị ác độc của Hà Bá. Hà Bá đã bắt cháu tôi, tương lai sẽ bắt cả con tôi và cả tôi nữa phải “thế mạng” hầu ngài”.

Nói đoạn, ông vơ lấy chai rượu còn non nửa, ngửa cổ tu ừng ực rồi gục mặt xuống ván thuyền khóc nấc lên. Tôi ngồi chết lặng, không biết cư xử thế nào. Thằng Viên, con trai cả của ông Binh thấy vậy, vội kéo tôi ra đầu khoang thuyền, thẽ thọt trách: “Khổ quá! Em đã dặn anh từ đầu rồi, là đừng hỏi bố em câu hỏi ấy. Sao anh cứ khơi lên cho ông ấy khổ là thế nào. Thôi anh xuống thuyền đi, em trở anh lên bờ”. Tôi định quay vào thanh minh với ông đôi điều. Nhưng vẫn thấy ông gục đầu, đôi bờ vai rung rung. Tôi chợt ngộ ra một cách đau đớn cái chữ Tâm luôn đau đáu trong những kiếp sống lênh đênh kia. Mắt bỗng thấy cay sè. Nay xin có lời tạ tội!!!

H.A.S

Phóng sự điều tra của Hoàng Anh Sướng

KỲ II: PHÁP THUẬT NẤU CAO HỔ VÀ  SỰ THẬT VỀ ĐƯỜNG DÂY BUÔN HỔ

Bí mật của những bộ xương

Nhát búa rìu oan nghiệt bổ phập vào cổ hổ.

Không biết đã có bao nhiêu nhát rìu tàn khốc như thế này rồi?

Ông thầy nấu cao cự phách mà tôi được may mắn ngồi hầu chuyện trong đêm đầu tiên canh chừng nồi cao hổ ấy là lang y Lương Văn B. Năm nay 75 tuổi, da thịt săn chắc, đỏ au như đồng, tóc búi củ hành, râu quai nón rậm rì, mắt phượng tinh anh, lang y B. mang dáng dấp của một cao thủ võ lâm đang hành tẩu trên giang hồ hơn là một thầy thuốc. Tổ tiên ông vốn là người Quảng Đông (Trung Quốc) phiêu dạt sang Việt Nam từ mấy trăm năm trước. Dòng họ Lương vốn nổi tiếng bao đời về tài bốc thuốc trị bệnh cứu người. Riêng lang y B. tiếng tăm lừng lẫy cả vùng về khả năng chữa trị các bệnh về xương bằng cây thuốc Nam, đặc biệt là tài thẩm định xương hổ. Chỉ một cái liếc mắt, ông có thể xác định đây là xương hổ thật hay giả, xương của hổ nuôi trong chuồng hay hổ hoang dại trong rừng sâu đại ngàn. Thậm chí, có thể biết được đấy là xương cốt của hổ xám hay hổ vằn, hổ chết vì dính bẫy hay trúng ngọn tên mũi đạn… Nhiều chuyên gia nấu cao ở Hà Nội đã không tiếc lời ca tụng, tôn sùng lang y B. là “chúa tể” của nghề. Và không ít đại gia sẵn sàng bỏ ra 2 – 3 triệu đồng chỉ để nhận một cái “gật” hay “lắc” của vị chúa tể này khi săn lùng được bộ xương hổ.

“Vậy làm thế nào để phân biệt được xương hổ thật và giả?”. Tôi dặt dè hỏi lang B. “Vị chúa tể” của nghề nấu cao bật cười khành khạch, rung đùi vuốt râu rồi lia cái nhìn tinh quái, kiêu bạc vào mắt tôi: “Một câu hỏi quá dễ. Tiến sĩ Sinh hay luật sư Thuỷ cũng có thể kể vanh vách cho chú nghe những tiêu chuẩn ISO. Nào là xương cọp đanh như gỗ lim, dằn xuống đất người tinh nghe biết ngay. Nào là việc đầu tiên thẩm định xương hổ là phải xem thông cân và xương bả. Thông cân là cái lỗ nhỏ ở chân trước, chỉ có gấu, hổ và báo mới có. Song thông cân của gấu thì tròn còn của hổ thì cong cong như mắt phượng nên gọi là phượng nhãn. Xương bả cọp có hình cánh buồm, xương bả các loài khác có hình vuông. Hổ chết trong rừng lâu ngày xương trắng bợt, ngâm nước một lát thì bị ải ngay. Hổ săn bắn thì xương dính liền nhau, có màu trắng ngà. Rồi thì muốn thẩm định chính xác nhất  phải kiểm tra trọng lượng của xương sọ. Toàn bộ xương cốt cọp nặng bảy phần thì xương đầu chiếm đúng một phần, không xê xích lạng nào…. Đấy, tiêu chuẩn ISO của xương hổ xịn đấy. Thiên hạ ai chẳng nói nhai nhải như vậy”. Ngừng lời, lại ném một cái nhìn kiêu bạc, lang B. đứng dậy, bước về phía nồi cao nghi ngút khói, mở ào nắp vung. Mùi gây gây, hoi hoi, nong nóng… phả ùa vào mặt tôi. Tôi rùng mình, bịt chặt mũi, miệng ậm oẹ muốn nôn nhưng vẫn cố rướn mắt về phía lang B. Ông vẫn khom lưng, ghé mặt sát nồi cao rồi chậm rãi với chiếc gáo dừa, múc thêm 5 gáo nước mưa đổ vào nồi. Thân hình ông chìm trong khói.

Kiểm tra xương lần cuối cùng trước khi bắc lên bếp đun

Lang B. chậm rãi quay lại phía tôi, cười khành khạch: “Nói vậy chứ nhiều tay nấu cao lõi đời rồi lơ là một tý vẫn mua phải xương đểu như chơi. Xương hổ bây giờ hiếm nên chúng nó làm giả nhiều lắm. Mà công nghệ chế tác xương hổ giả thì ngày càng tinh vi. Những khúc xương trâu, xương chó, xương béc-giê cụ…, qua hàng loạt thao tác tinh xảo, tỉ mẩn: đục, mài, cạo, giũa…, bọn lái xương sẽ phục dựng nguyên hình một bộ xương hổ với đầy đủ nhãn phượng, xương bả hình cánh buồm, răng không thiếu một chiếc cho khách chấm, khiến không ít những tay trùm sò trong đường dây buôn hổ  nhiều phen phải điêu đứng. Chẳng phải ai xa lạ, chính Bác Lực nhà ta đây khôn như cáo mà năm ngoái còn bị một phen chết đứng như Từ Hải nữa là. Chẳng là có một tay lái xương trong Thanh Hoá, một hôm hớt hải tìm gặp bác Lực, chào bán bộ xương cọp nặng 7kg với giá bèo bọt 40 triệu đồng. Hắn khóc lóc kể lể rằng: cha hắn vừa bị tóm vì tội buôn xương cọp từ Lào vào nên cần bán gấp để lấy tiền chạy chọt. Đã được tôi chỉ bảo nhiều lần nên bác Lực yên chí trao tiền. Ngày hôm sau tôi lên thẩm định lại, chỉ  rõ trò xảo thuật của tay lái xương, bác Lực mới ngã ngửa người. Ngay cả vết đạn ở sát gáy con hổ cũng được làm y như thật. Bác Lực nhà ta uất quá, định kéo người đi phục thù nhưng bắt nạt lái xương đâu có dễ. Từ bấy, bác Lực cạch không dám mua xương hổ, chuyển hẳn sang buôn hổ nguyên con trong tủ cho chắc ăn”.

Hổ nằm trong xe đông lạnh… nhập biên. 800 triệu cho mỗi chuyến hàng.

“Mấy năm qua, Quỹ Quốc tế bảo tồn thiên nhiên (WWF) và Cục kiểm lâm Việt Nam (FPD)tiến hành thử nghiệm một chương trình giám sát hổ và con mồi. Kết quả ban đầu cho thấy: miền Trung dãy Trường Sơn là vùng rộng lớn gồm nhiều khu rừng nhiệt đới ẩm có thể còn hổ. Ước tính, hổ ở Việt Nam hiện còn khoảng 100 con”. Tẩn mẩn giở sổ ghi chép, tôi rành rọt đọc từng câu từng chữ mẩu tin trên cho lang B. nghe rồi mạnh dạn chất vấn: “Hổ nguyên con đào đâu ra mà nhiều thế?” và tỏ vẻ nghi ngờ: “Hay đó cũng là sản phẩm tinh xảo của công nghệ chế tác hổ rởm”. Lang B. ngẫm ngợi một hồi lâu rồi gật đầu xác nhận: “Đúng là hổ ở Việt Nam ngày càng khan hiếm do nạn săn bắn ngày một tăng. Sinh cảnh sống của hổ ngày càng bị thu hẹp do mất rừng. Nhưng tôi thề với chú, chưa một tay buôn hổ nào đủ khả năng chế tác nguyên cả con hổ với lớp lông vằn vện, với nanh vuốt, thịt xương và nhất là cái mùi gây gây rất đặc trưng của chúa sơn lâm. Ngoại trừ trường hợp đánh lận con đen giữa báo hoa mai với hổ. Song cũng không dễ dàng lừa bịp được con mồi bởi báo hoa mai nhỏ hơn hổ. Con to nhất cũng chỉ nặng 60 – 70 kg (trong khi hổ nặng khoảng 100 – 250 kg), lông không có vằn vện (sọc ngang) mà là những đốm màu đen hình hoa mai”. Đưa mắt đảo quanh một lượt quan sát, lang B. ghé sát tai tôi thì thầm: “Tất cả những con hổ này đều từ Lào, ấn Độ, Srilanka, Nga, Thái Lan, Indonesia… nhập biên sang đấy. Có cả một đường dây buôn hổ xuyên quốc gia mà bác Lực nhà ta chỉ là một mắt xích nhỏ thôi. Phía sau bác ấy có những bàn tay đầy thế lực che chở, bảo kê”.

Cạo lông hổ như cạo lông… chó

Theo tiết lộ của lang B., Lực mới tham gia đường dây buôn hổ và thịt hổ này chừng 3 năm. Trước đây, Lực bị bệnh viêm đa khớp. Cứ chớm rét là các khớp xương chân, xương tay sưng vù lên, leo lên cầu thang tầng hai nhiều lúc phải nghiến răng đến tứa máu. Thuốc đông, thuốc Tây từ Bắc chí Nam mà nhức vẫn hoàn nhức. Lực lại mắc chứng yếu sinh lý, chưa xung trận súng đã cướp cò, trong khi cô vợ đang tuổi hồi xuân lúc nào cũng hừng hực như bó đuốc cháy. Có tay bạn buôn đồ cổ, mách Lực dùng thử cao hổ cốt. Ai ngờ, dùng đến lạng thứ 3, bệnh bay đâu mất. Súng đạn lúc nào cũng hung hăng xung trận. Lực sướng quá, đâm ra mê tín cao hổ. Rồi lao vào buôn bán lúc nào chẳng hay.

Nguồn hàng lúc đầu, chủ yếu quất từ Lào. Sự quản lý lỏng lẻo của các cấp chính quyền sở tại cùng nạn săn bắn, buôn bán động vật hoang dã tràn lan khiến Lào trở thành một “cối xay thịt” động vật hoang dã khổng lồ. ở Phôn Xa Vẳn, Bô Ly Khăm Xay, hổ được rao bán một cách công khai. Bỏ ra chừng 4.000 – 5.000 USD, người ta có thể mua được một bộ hổ cốt xịn nặng từ 10 – 13 kg. Sau này, khi nhiều động vật quý hiếm của Lào đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, hổ cũng cạn kiệt dần, Cục kiểm lâm trung ương Lào mới xiết chặt quản lý. Song Lào vẫn là trạm trung chuyển quan trọng để đường dây buôn hổ tuồn hổ từ Miến Điện, Thái Lan, Srilanka… vào Việt Nam qua hai cửa khẩu Cầu Treo (Hà Tĩnh) và cửa khẩu Nậm Cắn (Nghệ An). Hành trình đưa hổ vượt qua nhiều biên giới quốc gia dường như không gặp bất kỳ trở ngại nào, trừ việc qua cửa khẩu. Song với hàng ngàn mưu mô chước quỷ, bọn lái hổ vẫn đưa hổ lọt qua cửa khẩu ngon lành. Cứ như lời lang B. nói thì hổ từ Lào vào Việt Nam bằng nhiều con đường. Với hổ nguyên con, chúng phải mổ bụng vứt bỏ hết ruột gan để tránh xác hổ mau thối rữa và bốc mùi khi vận chuyển. Sau đó, một là thuê người dân tộc khiêng vượt suối, băng rừng. Hai là chở bằng xe đông lạnh. Cách vận chuyển thứ hai khó khăn hơn song “nếu có bảo kê thì chẳng thấy gì trở ngại cả” – lang B. khẳng định.

Đem được nguyên con từ rừng về tận nhà là tuyệt nhất. Trường hợp nếu cảm thấy không an toàn thì hoặc là chặt hổ làm 5 phần gồm đầu và tứ chi để vận chuyển cho dễ nhưng phải giữ được da. Khi có đủ các bộ phận nơi tập kết mới ráp lại. Hoặc là xẻ thịt róc xương, vừa làm vừa quay video, chụp ảnh cho khách mua xương xem để làm tin. Dĩ nhiên, giá rẻ hơn nguyên con rất nhiều.

Theo điều tra riêng của chúng tôi, đường dây buôn hổ của Lực hầu hết bán hàng độc. Bán nguyên con theo trọng lượng 2,5 – 3 triệu đồng/kg. Cần mua bao nhiêu con cũng có. Cứ đặt tiền tươi, cho địa chỉ, Lực sẽ cho ô tô chở đến tận nhà. Chậm nhất không quá một tuần lễ. Tất nhiên, để có được hàng độc nguyên con như thế, chi phí lót chân lót tay cho các bảo kê không phải là ít. Nếu đúng như thú nhận của Lực thì một chuyến hàng trị giá 3 tỷ, tiền chi cho bảo kê sẽ không dưới 800 triệu đồng?

Bữa tiệc tráng chảo

Cao hổ thành phẩm sau bảy ngày bảy đêm cô trong chảo lửa.

Vị thuốc người đời tôn sùng là “chúa tể trên giường chiếu” và kỳ công săn lùng là đây.

Cuối cùng, ngày chia cao cũng đến. Đám chung cao chúng tôi mặt mày ai cũng hớn hở sau bảy ngày bảy đêm đỏ mắt ngóng chờ. Nhìn lớp cao nâu đen bóng được láng mịn trên chiếc mâm đồng, mắt kẻ nào cũng rực lên. Lang B. sau suốt một tuần gần như thức trắng sì sụp săn sóc nồi cao, lạ kỳ thay, sắc diện vẫn hồng hào, mắt vẫn tinh anh, tiếng nói vẫn sang sảng. Chẳng hề thấy ở lão một chút mệt mỏi nào. Lão cười hề hề: “Nhằm nhò gì. Tháng tôi vần vò được 3 nồi như thế này. Tối còn đủ sức đi chơi gái, các em 18 cứ mà rên ầm ầm. Có đứa không chịu nổi vì sức dai của lão, chắp tay mà lạy sống: Con lạy bố. Bố tha cho con. Con xin hoàn lại tiền. Sức trai như các chú, theo được lão già này còn mệt nhé”. Nói đoạn, lão cười khơ khớ, đung đưa mắt về phía mấy mợ mỡ màng đang ngồi túm năm tụm ba trên sập gụ thi nhau kể tội các đức ông chồng.

Giờ chia cao bắt đầu. Vợ Lực, tay phải cầm dao, tay trái cầm thước, mắt nheo nheo ngắm nghía rồi khẽ khàng rạch một đường dao. Lớp cao hổ tách đôi thành hai phần đều chằn chặn trên mâm đồng. Rồi bất ngờ hứng khởi, bàn tay thị dẻo quẹo cắt ngang cắt dọc. 54 miếng cao hình vuông sắc cạnh như bao thuốc không vênh nhau một ly. Lực ngồi chồm hổm, giở sổ đọc, giọng vỏng vót, con mắt lươn hấp hánh: “Tiến sĩ Sinh, 6 lạng. Luật sư Thuỷ, 9 lạng. Giám đốc Định, 5 lạng… Vợ Lực miệng cười đon đả, những ngón tay nõn nần của thị thoăn thoắt gói từng miếng cao vào túi ni lông giao cho từng khách. Thỉnh thoảng thị lại thẽ thọt: “Gớm! Các bác mà dùng hết số cao này, cứ gọi là khoẻ phải biết. Bác gái nhà em cứ là lên tiên”.

Bữa tiệc tráng chảo với rượu cao hổ uống tẹt ga

Miếng cao cuối cùng được trao tay cũng là lúc bữa tiệc tráng chảo bắt đầu. Bữa tiệc hôm nay tuy không có thịt hổ, nhưng bù lại, rượu mạnh pha cao hổ uống tẹt ga. Mắt ai cũng vằn lên. Thứ rượu trăng trắng, đùng đục ấy uống một ly đã thấy máu trong huyết quản rần rật chảy. Ly thứ hai thấy mặt phừng phừng như hơ lửa. Ly thứ 3 thấy đất trời nghiêng ngả. Ly thứ 4 thấy chân tay thừa thãi, ngứa ngáy rồi. Thảo nào mấy quý bà, quý cô hồi sáng còn đoan trang, thuỳ mỵ lắm mà giờ cũng nốc rượu như điên. Có cô còn bưng mặt khóc tu tu, thở than “cả đời em chưa một lần biết cực khoái là gì. Phen này, em quyết bắt chồng em đưa em vào giây phút thần tiên bằng cao hổ”. Và thật bất ngờ, giữa không khí ồn ã của những tiếng ly cốc va chạm, tiếng nói cười, tiếng nôn oẹ, tôi đã thấy mâm bên, Lực đang hì hụi ghi ghi, chép chép tên tuổi, số suất của những người đăng ký chung mua mẻ cao tới. Tôi giật mình. Thế là chỉ mươi ngày nữa thôi, một con hổ nữa sẽ tiếp tục phải vùi thây trong vạc lửa…

H.A.S

– Trước những bằng chứng xác thực của PV TGM (Băng hình, ảnh), một l•nh đạo của Cục kiểm lâm Việt Nam thừa nhận: Tình trạng vận chuyển, buôn bán hổ trái phép đang diễn ra ở Việt Nam là có thật và đặc biệt sôi động ở Hà Nội. Với những hình thức che dấu tinh vi và có sự bảo kê thì kiểm lầm gần như bị đẩy ra ngoài cuộc.

– Ông Nguyễn Công Đức, chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Hà Nội cho biết: Tháng 9 năm 2003, chi cục truy quét toàn thành phố, thu giữ được 7 bộ da hổ nhồi và đưa về Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Sóc Sơn. Nhưng do không xác định được những con hổ này chết từ bao giờ nên chủ nhân của nó đã đòi về gần hết vì họ bảo đó là đồ gia bảo để lại.

– Theo National Geographic Magazine tháng 11 năm 2007, trong khoảng 2 thập kỷ qua, số hổ trên thế giới đã giảm xuống nhanh chóng. ở châu Phi, châu Mỹ, hổ gần như bị xoá sổ. ở Đông Dương, số hổ còn sót lại khoảng 200 – 300 con.

Hiện nay, hổ là động vật quý hiếm được cả thế giới bảo vệ. Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) đ• xếp hổ vào phụ lục 1, cấm không được buôn bán (ngoại trừ trường hợp nhập khẩu không mang tính thương mại). Để bảo vệ hổ và các động, thực vật quý hiếm khác, nước ta cũng đã tham gia công ước CITES và thành lập cơ quan CITES tại Việt Nam. Đặc biệt, lần đầu tiên, Bộ luật hình sự năm 1999 đưa ra một điều khoản (Điều 190) xử lý các vi phạm trong quản lý, bảo vệ ĐVHD. Từ bấy đến nay, năm nào cũng có văn bản pháp lý mới xiết chặt hơn hoạt động liên quan.

THÂM NHẬP ĐƯỜNG DÂY BUÔN HỔ VÀ THỊT HỔ:

CHÚA SƠN LÂM VÙI THÂY TRONG VẠC LỬA

Phóng sự của Hoàng Anh Sướng

Thủ cấp hổ

Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không thể tin nổi rằng: có một ngày, mình lại được ung dung ngồi ăn thịt… hổ uống với rượu cao hổ cốt được chưng cất công phu suốt bảy ngày bảy đêm. Càng không thể tin được, giữa lúc cả thế giới đang xiết chặt tay bảo tồn loài chúa sơn lâm thoát khỏi thảm hoạ tuyệt chủng thì ở một vùng quê cách Hà Nội chừng 30 km, hàng chục con hổ lần lượt vùi xương trong vạc lửa để chưng cất nên thứ cao nâu đen mà các đại gia tôn sùng là vị thuốc “chúa”, uống vào “khoẻ” phải biết. Thâm nhập vào lò mổ hổ này, tôi đã phát hiện ra cả một đường dây lớn chuyên buôn bán hổ, sừng tê giác và nhiều động vật quý hiếm xuyên quốc gia.

Kỳ 1: TÔI ĐI ĂN THỊT… HỔ

Chúa sơn lâm nằm trong… tủ đá

Sáng hôm ấy, Lực (tên nhân vật đã được thay đổi) mò đến nhà tôi rất sớm. Vừa nhìn thấy tôi, hắn đã cười hề hề: “Anh có việc đến nhờ chú đây”. Làm một ực cạn chén trà, Lực ghé tai tôi thì thầm: “Anh đang tổ chức nấu cao hổ cốt tại nhà. Đảm bảo xịn 100%. Uống chỉ 1 lạng đã thành vị “chúa tể”… trên giường. Chú quen biết nhiều đại gia, manh mối dùm anh nhé”. Tôi cười khẩy: “Thôi đi ông! Hết cửa làm ăn rồi hay sao mà lại lao vào cái trò lừa bịp ma tịt ấy. Ông mà lại đòi nấu cao hổ cốt? Có mà hổ… lốn thì có”. Tôi chưa kịp nói hết câu, Lực đã trừng mắt tức giận: “ơ! Cái chú này láo thật. Quan hệ với anh bao nhiêu năm mà chú vẫn còn đa nghi Tào Tháo à? Thằng Lực này, từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến nay chưa biết thất tín với ai, dù chỉ một lần, sao dám cả gan đi lừa bịp thiên hạ. Đây, chú không tin thì xem đi”. Vừa nói, Lực vừa thò tay vào túi xách đưa cho tôi một xấp ảnh. Tôi giật mình. Bức ảnh thứ nhất: Lực cùng 3 thanh niên trai tráng khiêng con hổ vằn vện nằm phủ phục trên cáng tre. Bức ảnh thứ 2: Ngón tay trỏ bị cụt đốt của Lực đang chỉ vào con số 92 của chiếc cân bàn, trên đó, vị chúa sơn lâm nằm chỏng vó. Lật nhanh bức ảnh thứ 3, không thể tin vào mắt mình: Lực đang ôm thủ cấp của chúa sơn lâm, mắt cười tít, lưỡi thè lè dài gần bằng lưỡi của hổ… Lia tia mắt lươn tinh quái về phía tôi, lực cười đắc thắng: “Sao?! Đã tin chưa hở cháu ông Tào Tháo? Chưa à? Lại sợ thằng anh dùng kỹ thuật photoshop để lắp ghép ảnh chứ gì. Được! Chú mặc quần áo rồi đi theo anh. Hiện ở nhà anh còn một chú nặng chừng 80 kg đang nằm chờ vào vạc lửâ. Chú có thể mang theo máy ảnh, máy ca-me-ra quay chụp thoả mái nhưng với một điều kiện: cấm không được đưa hình bọn anh lên báo. Chú thề đi”. Tôi thề. Máu nghề nghiệp sôi lên. Tôi vội vàng khoác máy lên xe theo Lực.

Nhà Lực nằm ven con sông Đáy. Ngôi biệt thự 4 tầng lộng lẫy với lối kiến trúc nửa Tây nửa Tàu  vênh váo vươn khỏi luỹ tre làng. Bước chân đến cổng, đã nghe thấy tiếng cười đùa rôm rả. Tôi nhận ra Tiến sĩ  Sinh, anh trai của thứ trưởng Bộ X. và Luật sư Thuỷ thuộc Đoàn luật sư Hà Nội. Tiến sĩ Sinh mặt đỏ lựng như gà trọi, đang huơ chân múa tay quảng cáo về công năng huyền diệu của cao hổ cốt. “Thú thực với các ông, trước kia chưa dùng cao hổ, tôi với bà nhà tôi tháng chỉ gọ ghẹ một đôi lần. Mà toàn chưa đến chợ đã hết tiền mới bực chứ. Bà xã nhà tôi buồn  ra mặt, cứ nằm ườn như khúc gỗ, thở hắt ra. Thế mà mới xơi được 2 lạng, cái ấy của tôi lúc nào cũng sẵn sàng xung trận, đêm bảy ngày ba vào ra không kể, bà xã sướng đứ đừ đừ. Hễ thấy chú Lực điện ra một cái là đã sốt sắng hỏi  có mẻ cao nào mới chưa? rồi hào phóng mở két rút tiền đưa chồng về mua. Thế mới chết chứ”. Luật sư Thuỷ thì khành khạch cười: “Xin lỗi các bác gái ở đây! Em ấy mà. Trước đây tinh của em nó cứ loãng tềnh tệch. Em chỉ lo nhà em mất giống. Thế mà chơi 3 lạng cao hổ cốt của bác Lực, nó bỗng sánh sành sạnh. Mới quệt ngang quệt dọc bên ngoài vài cái, vợ em đã uễnh bụng rồi. Thánh thế chứ lỵ”. Trong lúc mấy cô mấy chị cười ré lên, đấm lưng nhau thùm thụp, tôi theo chân Lực lẻn xuống nhà dưới. Máy quay phim đã sẵn sàng. Máy ảnh cũng đã lên phim. Nhưng đứng nhìn khắp các xó xỉnh cũng chẳng thấy hổ đâu. Tôi nhìn Lực đầy nghi ngờ. Lực cười khì, nheo mắt, hất hàm về phía chiếc tủ đá kê lừng lững dưới bàn thờ rồi thũng thẵng bước đến. Mở chiếc khoá sắt to đùng, Lực tì tay lên nắp tủ, tay kia chống nạnh, mặt bỗng đanh lại, giọng lạnh lùng: “Chú có thể quay phim, chụp hình thoả mái, kể cả quay cảnh bọn anh chặt hổ nấu cao. Nhưng với 2 điều kiện. Thứ nhất: Cấm được đưa hình bọn anh lên báo. Thứ 2: Quay xong, chú phải sao cho anh một bản. Chú chấp nhận thì làm. Nếu không, mời chú biến”. Đầu tôi gật gật mà mắt cứ dán chặt vào chiếc tủ đá, nơi chúa sơn lâm đang ngự bên trong. Lực xoay người, gồng mình, mở nắp. Tôi căng mắt nhìn. Qua làn hơi nước mờ như sương khói, con hổ dài chừng hơn 1 m, nặng trên dưới 1 tạ đang nằm phủ phục. Màu lông vằn vện hiển hiện dưới ánh đèn chiếu của chiếc máy ca-me-ra.

Tôi chạy vòng quanh chiếc tủ đá, tỉa tót từng khuôn hình, mồ hôi túa ra. Lực đập đập vào vai tôi, cười: “Thôi! Quay chừng ấy đủ rồi. Hôm nào làm thịt, chú về quay thoả mái”. Đến lúc này, tôi mới ngớ người. Tại sao cả một con hổ to như vậy, Lực lại có thể đưa về nhà một cách ung dung mà không hề gặp một trở ngại nào? Và cứ như lời giới thiệu của hắn, đây đã là con hổ thứ 6 rồi? Dặt dè hỏi Lực, ai ngờ hắn cười hơ hớ: “Chán chú bỏ mẹ! Thời buổi này chẳng có gì không làm được. Miễn là biết đường luồn lách. Nếu chú thích, anh sẽ mua cho chú một con, trở thẳng ra phòng trà của chú ở gần Văn Miếu – Quốc Tử Giám, xẻ thịt, nấu cao tại chỗ. Thằng nào đến bắt bớ, anh chịu trách nhiệm. Mấy tay lang y ở Ngã Tư Sở, tháng nào anh chẳng bán cho họ một đôi con”. Tôi cười: “Bác cứ nói đùa. Hổ bây giờ ở Việt Nam đếm trên đầu ngón tay. Thế mà bác bán hổ tằng tằng như bán chó, bố ai tin được?!”. Lực nổi cáu: “ơ! Chú càng nói càng ngu. Hổ ở Việt Nam hết thì kiếm hổ ở nơi khác chứ sao. Như bọn anh đây, toàn là hổ của ấn Độ, Bangladesh, Srilanka, Nga, Thái Lan… vượt biên sang đấy thôi”. Nói đoạn, như sực tỉnh, Lực im bặt. Rồi cười hề hề kéo tay tôi: “Thôi! Lên nhà uống nước. Chú cứ hỏi linh tinh”.

Tôi đặt tiền chung 2 suất. Lực sướng lắm. Lái xe đưa tôi về tận nhà. Lúc chia tay, hắn dặn đi dặn lại: “Sáng thứ bảy chú nhớ về sớm nhé. Về mà quay phim”.

Làm thịt hổ tưng bừng như… mổ lợn ngày Tết

Đúng hẹn, 6 giờ sáng thứ bảy, tôi đã có mặt ở nhà Lực. Tiến sĩ Sinh, luật sư Thuỷ cùng một số đại gia ở Hà Nội về từ tối hôm trước. Tôi không ngờ lại có đông người mua cao hổ đến thế. Dễ có đến 30 người. Đủ các thành phần: từ trí thức, sĩ quan quân đội, cánh buôn lậu đường dài và cả mấy tay đồ tể… Họ lắm tiền, đã đành. Nhưng cùng chung một điểm, đó là tính háo dục và tôn sùng cao hổ như vị thuốc chúa tể của giường chiếu. Tôi cũng không ngờ rằng, mình lại là nhân vật quan trọng đến thế khi mà cả hội chỉ chờ tôi đến là xắn tay làm thịt hổ ngay.

Cánh thợ nấu cao gồm 4 người, Lực thuê ngay tại quê. Làng Văn La xưa chuyên hành nghề lái gỗ. Trai tráng trong làng cứ ngược con sông Đáy mà lên tận Sơn La, Lai Châu trở gỗ, nứa về xuôi. Những ngón nghề nấu cao động vật, họ đã học được của bà con miền sơn cước. Sau này, khi mà tính năng huyền diệu của những miếng cao hổ trong việc tráng dương, bồi sức lan truyền đã tạo nên cơn sốt ngầm “săn cao hổ” từ các đại gia, “pháp thuật” nấu cao của đám thợ Văn La mới được thoả sức tung hoành. Họ đi khắp trong Nam ngoài Bắc nấu cao thuê với giá trọn gói 4-5 triệu đồng/con.

Bốn thanh niên trai tráng mau chóng khiêng hổ từ trong tủ đá ra khoảnh sân trước sân. ở đó, tất cả những dụng cụ cần thiết cho cuộc xả thịt chúa sơn lâm đã được bày sẵn: hai chiếc nồi quân dụng, một chiếc thuyền tôn chứa đầy nước, búa rìu, bàn chải sắt, nạo sắt, dao kéo… Việc đầu tiên là phải đập vỡ lớp đá cứng bên ngoài và bên trong bụng con hổ, rửa sạch rồi đặt lên bàn cân. Chú hổ này cân nặng 78 kg. Tiến sĩ Sinh nhẩm tính: “Nếu tính cả lục phủ ngũ tạng đã bị bóc bỏ trước khi trở về Việt Nam, chú hổ này, lúc sinh thời, nặng không dưới một tạ”.

Phó Lập săm sắm lột chiếc áo phông, vớ ngay chiếc búa rìu, một chân đè lên mình hổ, mắt nheo nheo ngắm nghía rồi bất ngờ vung rìu, bổ “phập” vào cổ hổ. Chỉ đúng hai nhát, đầu chúa sơn lâm đã rời khỏi thân. Lập ôm thủ cấp hổ, ghé mặt sát ống kính ca-me-ra, cười hề hề: “Anh quay kỹ mặt em để sau này con em lớn, em khoe với nó là bố ngày xưa một tay giết hổ như Võ Tòng”. Cả hội cười ồ lên. Sự có mặt của nhà quay phim, nhiếp ảnh là tôi khiến cánh thợ nấu cao làm việc bốc hẳn lên. Chỉ chưa đầy 20 phút, cả thân hình cường tráng vằn vện những lớp lang của chúa sơn lâm đã trở thành đống thịt, xương ngồn ngộn. Mùi gây gây, hôi hôi rất đặc trưng của hổ cùng mùi thum thủm của thứ thịt để lâu ngày tạo nên một tổ hợp mùi rất khó tả khiến tôi ậm oẹ mấy lần. Giầy, tất tôi dính be bét máu hổ. Trong khi cánh thợ nấu cao đang cuồn cuộn bắp tay miết chiếc nạo sắt dứt từng mảng lông hổ ra khỏi  da thịt thì vợ Lực xăng xái thục tay vào đống thịt tìm bới nanh, vuốt hổ. Đôi tay trần nần nẫn thịt của thị sục sạo một hồi, thị rít lên: “Tiên sư đứa nào lại nẫng mất của bà rồi. Đúng là quân cướp ngày. Mấy triệu bạc của bà chứ ít gì đâu” . Đúng lúc thị vỏng vót chửi bới vì mất bộ nanh vuốt thì ngoài cổng xuất hiện hai sắc áo vàng công an. Tôi nhận ra Phó công an huyện Nguyễn Văn X. và trưởng phòng điều tra xét hỏi Đ. Vợ Lực bỗng im bặt rồi đon đả chạy ra, mắt lúng liếng, hi hí cười: “Mời hai bác vào nhà xơi nước. Nhà em nhắc đến hai bác suốt từ sáng đến giờ”. Chẳng biết vợ chồng Lực to nhỏ gì với hai vị công an nọ. Chỉ thấy chừng nửa tiếng sau, phó công an huyện X. và Đ. ra sân nhìn ngó một lát rồi đi. Sau này, gặng hỏi mãi, Lực mới bực bội bảo: “Mẹ kiếp! Mấy thằng ấy thính như chó. Lần nào anh làm thịt hổ, chúng nó chẳng mò sang. Đấm vào mõm  mỗi thằng một triệu, kèm một lạng cao, chúng nó mới để yên cho đấy”.

Khi từng miếng thịt hổ được cánh thợ nấu cao làm sạch sẽ, xếp đầy 2 chiếc nồi quân dụng thì Lực khệ nệ ôm từ trên nhà xuống một chiếc bao tải đã được niêm phong. Lực vung dao nhọn rạch toang miệng bì rồi xoạc chân dốc ngược. Cả một đống xương xam xám, trăng trắng đổ oà ra mặt sân. Lực giải thích: “Đây là xương gấu, xương sơn dương và gạc nai. Con hổ này bọn anh sẽ nấu cao toàn tính nhằm giảm giá thành. Song vẫn phải tuân thủ theo công thức: 60% thịt xương hổ, 30% xương gấu, còn lại là xương sơn dương và gạc nai”.

11h trưa, hai chiếc nồi quân dụng đổ nước ngập chừng 10cm được bắc lên hai lò than rực hồng. Cả tốp thợ nấu cao và đám mua cao chúng tôi hỉ hả ngồi vào mâm cụng chén. Bữa tiệc khá thịnh soạn. Thịt vịt, thịt gà, thịt bò và món không thể thiếu được là thịt… hổ nướng tẩm ướp gia vị. Mọi người uống ừng ực, ăn ào ào. Tôi gắp ngay miếng thịt hổ. Cái cảm giác lần đầu tiên trong đời được ăn miếng thịt chúa sơn lâm khiến tôi vừa sung sướng, vừa hồi hộp. Nhưng vừa đưa lên miệng, cái mùi gây gây, hôi hôi, thum thủm… khiến tôi ậm oẹ hồi sáng lại dậy lên nguyên vẹn. Ba lần tôi cố đưa lên miệng, ba lần tôi phải thả xuống bát. Có lẽ, tôi đã dị ứng với mùi hổ, với thịt hổ chăng?

Bữa tiệc tàn cũng là lúc chúng tôi cắt cử xong các ca trực nồi cao trong suốt bảy ngày bảy đêm. Tôi và tiến sĩ Sinh chịu trách nhiệm canh chừng nồi cao ngày thứ nhất. Và thật bất ngờ, chính trong đêm đầu tiên ngồi bên vạc lửa, tôi đã được diện kiến bậc thầy nấu cao lão luyện nhất làng Văn La. Chính câu chuyện kể của thầy đã giúp tôi biết được kỹ nghệ nấu cao hổ và hé mở về một đường đây buôn hổ xuyên quốc gia mà Lực là một mắt xích.

Kỳ II: “Pháp thuật” nấu cao hổ và sự thật về đường dây buôn hổ

Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh

Kỳ 16: Trò chuyện cùng nhà văn hoá tâm linh Phan Oanh:

“ĐI ĐÂU TÔI CŨNG CHỈ XIN CHO DÂN VIỆT NAM SÁNG ĐẠO”

Nhà báo Hoàng Anh Sướng thực hiện

“Chúng ta phải rà soát lại toàn bộ phong thuỷ của Việt Nam. Đó là đất đai, sông núi. Chúng ta phải xem tất cả những đại huyệt ấy, đại huyệt nào tắc, huyệt nào bị yểm, huyệt nào chưa thông, bị phá, chỗ nào phải phục long, đảo long, khai long…”

Tôi gọi bà là nhà văn hoá tâm linh không chỉ bởi bề dày 25 năm hoạt động, cống hiến cho đời sống tâm linh nước nhà mà còn bởi những chiêm nghiệm, đúc kết,  kiến giải đầy sức thuyết phục của bà về thế giới tâm linh đầy huyền bí. Nguyên là giáo viên dạy triết học ở Hà Nội, có khả năng ngoại cảm sau một cơn đột biến, bà là một trong những nhà tâm linh đầu tiên hoạt động ở Hà Nội. Cuộc trò chuyện với bà kéo dài gần 5 tiếng đồng hồ trong một buổi chiều mùa hạ mưa dầm sùi sụt về hiện tượng “bùng nổ” các nhà ngoại cảm, về nhu cầu bức xúc thời hậu chiến: đi tìm hài cốt liệt sĩ, về “cơn sốt” lễ bái cầu cúng đền chùa hiện nay và cả chữ “Đạo” mà người đời đang hiểu sai lệch đã gây cho chúng tôi rất nhiều bất ngờ và hứng thú. Tính thuyết phục trong cách nhìn, cách kiến giải của bà có lẽ lấp lánh bởi cái nhìn sâu sắc của một người thấm nhuần triết học, sự trải nghiệm của một người đã bước qua tuổi “tri thiên mệnh” và trên hết bởi chính những nếm trải của người trong cuộc đã… 25 năm làm tâm linh..

P.V: 25 năm hoạt động trong lĩnh vực tâm linh, có bao giờ bà dừng nhịp để ngẫm về những điều mình đang làm?

Bà Phan Oanh: Có chứ. Ngay từ những ngày đầu bùng nổ về khả năng ngoại cảm, tôi đã ngộ ra một điều: Khó nhất ở trên đời là sống ở dương phải làm việc âm. Không biết lấy cái gì để mà đo. Những người làm việc âm tìm ra được một cái thước chuẩn để đo là một công việc không dễ  chút nào. Tìm hoài, tìm mãi, tìm ở đâu? Cuối cùng, tìm ngay  trong ta chứ không phải ở đâu xa lạ. Bởi nó chứa đựng tất cả. Những cái gì tinh tuý nhất, ô trọc nhất, quỷ quái nhất đều tồn tại trong con người ta. Cho nên khi thực hành tâm linh, điều quan trọng nhất là tâm pháp. Và cái cao nhất cũng là tâm pháp. Ví như Bùa ngải xứ Mường mà tôi đã có dịp đọc trên Tạp chí Thế Giới Mới mà anh là tác giả. Bùa ngải không có tội, chỉ có người thực hành phương pháp này sinh công hay sinh tội mà thôi. Bản thân nó rất vô ngã. Và nếu như cái nghiệp nhà anh mà nó hợp với cái pháp này thì cái duyên pháp ấy nó hợp nhau để tạo nên một sự lợi lạc. Và chính cái bùa ngải này là hóa giải, là chuyển nghiệp. Vậy thì muốn chuyển nghiệp có ngàn vạn cách. Nhà Phật có tám vạn bốn ngàn pháp môn cơ mà. Nhưng tại sao anh chọn một pháp tu, anh lại bảo chỉ pháp tu anh mới đúng còn pháp kia là sai, là xấu, là lệch. Cái đó là do nhận thức của chúng ta quá chật hẹp.

PV: Bà quan niệm thế nào về chữ Đạo? Và những người làm tâm linh như bà có cần có Đạo không?

Bà Phan Oanh: Tôi có một quan niệm thế này: Đạo xếp đường tròn. Và nếu trên hành tinh chúng ta có 7 – 8 tỷ người thì cái hành tinh tưởng là to, vĩ đại nhưng so trong thiên hà nó mảnh mai, bé xíu, chứa đựng 7 – 8 tỷ người sẽ có một đường tròn khổng lồ cho 8 tỷ chỗ đứng. Và mỗi người chỉ được đứng một vị thế trên cái đường tròn khổng lồ ấy, không ai tranh của ai. Vì vậy, tôi rất muốn mọi người khi có nhân duyên để làm công việc tâm linh thì phải xích lại gần nhau. Hội được cái tâm, chụm đầu vào nhau mà phát huy hết sức mạnh. Tôi cho đó là những quà tặng mà hồn thiêng của trời đất, của sông núi, của liệt tổ liệt tông trao tặng. Và ai đó có duyên lành từ kiếp trước và ngàn vạn những mối nhân duyên nữa được tiếp nhận cái này thì phải làm cho cái duyên đó toả sáng, làm lợi lạc cho chúng sinh. Có lần tôi đã nói với nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng: “Hằng ạ! Trời đất và liệt tổ liệt tông ban cho Hằng một bảo bối để Hằng đi tìm mộ. Và cái bảo bối này sẽ giải quyết được một nhu cầu bức xúc vô cùng sau chiến tranh. Hằng phải sử dụng bảo bối này với cái tâm phải sáng, đức phải rộng. Nếu như tâm mà mỏng, đức mà sơ, không may thiên nhiên trời đất thu lại, cô cháu mình sẽ trở thành… “ông lão đánh cá”. Cái lẽ hiển nhiên ấy, không phải ai làm tâm linh cũng hiểu được đâu. Họ cho rằng khả năng ấy là của họ, cho nên cái tôi của họ đã lấn lướt.

Khi thành lập Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người (năm 1997), 3 buổi chiều, ông Ngô Đạt Tam, giám đốc Trung tâm lên nhà tôi trao đổi, đàm đạo. Tôi bảo với ông ấy rằng: “Anh Tam ạ! Cái mừng nhất là Trung tâm này ra đời, có nghĩa là thông tin của tôi bắt được cách đây 15 năm (1982) là đúng. Rằng nó phải là một ngành khoa học. Và nhà nước sẽ quan tâm đến. Bây giờ nhân danh một nhà khoa học, tập hợp các nhà ngoại cảm, nếu như các anh không vững vàng về lý của trời đất thì cái trung tâm ấy sẽ trở thành nơi các nhà ngoại cảm… tỷ thí tài năng. Bởi vì tôi biết, trong cái môn này thì chả có ông nào bé cả. Thầy nào cũng là số một.

P.V: Có một thực tế là dân ta hiện nay đổ xô đi lễ. Có lẽ chưa bao giờ, các đình, chùa, miếu mạo lại đông con nhang đệ tử đến xì xụp khấn vái nhiều như bây giờ? Đó phải chăng vì dân ta mộ Đạo? Đạo ở Việt Nam đang thịnh?

Bà Phan Oanh: Ngày 14 tháng 2 năm 1982, tôi bùng nổ hiện tượng này. Tôi nhận được một thông tin: “Con ơi! Dân sính lễ là điềm suy xã tắc. Bao giờ dân giác ngộ đạo mới là điềm thịnh của quốc gia. Ta báo cho con biết trước, từ 1985 trở đi, những thành phố lớn, những người có học sẽ đua nhau đi lễ”. Càng ngẫm tôi càng thấy đúng. Song lúc ấy, tôi cứ tự hỏi: “Tại sao sính lễ là điềm suy?. Mãi sau này tôi mới hiểu được.

Ngạn ngữ dân tộc ta có câu: “Thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tu chợ thứ ba tu chùa”. Có nghĩa: Thứ nhất tu tại gia không phải là lễ tại nhà. Đó là mối quan hệ giữa người với người trong huyết tộc. Ví như cha mẹ tôi sinh hạ được 5 người con. Nhưng bố mẹ nói: chỉ thích ở với cô Oanh thôi. Thì tôi nuôi mẹ, đó là nhân duyên, cái lý của nhà Phật. Lúc khỏe cụ trông nhà cho tôi là duyên. Lúc ốm thì là nợ. Cụ ở với tôi thì dứt khoát nhân tài, vật lực, công hạnh, bản thân tôi phải cống hiến 70% còn bốn vị kia chỉ có 30% thôi. Nếu tôi ngộ đạo thì tôi làm bằng sự tự nguyện, tôi được công đức. Đấy mới là tu. Còn nếu vô đạo, tôi sẽ bảo: Cụ đẻ ra được 5 người chứ không phải mình tôi, các ông bà chia nhau đến để mà hầu cụ. Một ví dụ nữa. Có một người bạn rất giỏi về mảng dự báo bảo: “Oanh ơi! Cẩn thận không năm nay nhà Oanh mất xe đấy”. Và nếu như người dự báo ấy giỏi, tháng 10 tôi bị mất xe thật. Nếu ngộ đạo, tôi sẽ nói với chồng: “Chắc nó vào chương trình rồi anh ạ!” thì xe mất nhưng vợ chồng tôi không cãi nhau, tinh thần nhà tôi không nát. Và tuyệt vời hơn nữa khi tôi nhận được một câu: “Thôi em ạ. Năm ngoái các cụ cho mình 10 cái xe, năm nay mất 1 cái, yên tâm đi”. Đấy mới là tu. Chứ không phải rằm, mồng một, con không đến chùa, con lễ ở nhà là tu tại gia.

Thứ hai tu chợ. Đó là mối quan hệ ngoài huyết tộc nhưng diễn ra sắc tục. Chị tử tế chị đi chợ đoan trang. Bà nhẹ nhàng đi chợ ý nhị. Tôi tham, tôi mua một cái cải bắp, bằng được tay nem tay chanh thêm cho bác củ hành. Qua hành vi mua bán bộc lộ hết tính nết, bao nhiêu nọc độc có cơ lộ rõ. Đi đến công đường không nghĩ chuyện làm chỉ nghĩ chuyện lật đổ. Trong khi đó, trong số mệnh mình, nếu mình hiểu mình chỉ là quân xe thì làm sao mình lên tướng được. Vốn của mình nó thế, nó phải thế. Phật nói rất rõ ràng, nó là nhân quả. Còn nếu hiểu, kiếp này mình rất giỏi nhưng chỉ làm trợ lý, làm quân xe thì mình làm hoàn thành công việc của xe, mình đã đắc đạo.

Thứ ba tu chùa. Có nghĩa là tu ở nhà cho tâm sáng, ứng xử ở ngoài cho đức rộng thì anh đến chùa là báo công với người Mẹ  thiên nhiên. Mà một là công, hai là tội.

ở Việt Nam bây giờ, người hư đi lễ nhiều. Tôi cam đoan đánh đề ngày nào cũng đi lễ. Cà phê bóng đá ngày nào cũng đi lễ. Chạy trốn pháp luật, buôn gian bán lận đi lễ. Còn những người đổ mồ hôi sôi nước mắt, đầu tắt mặt tối làm quần quật thì thời gian đâu mà đi lễ. Cho nên dân sính lễ là điềm suy xã tắc. Cho nên phải tốt từ nhà, tốt đến xã hội con ơi mới đi lễ. Một câu đơn giản vô cùng mà tôi thấm thía. Càng ngẫm càng hay, càng đúng.

Cho nên chữ đạo là một vòng tròn khép kín không đầu. Dân tộc Việt Nam có câu “thứ ba tu chùa” nhưng lại có câu “Tiên học lễ”. Đấy là khởi đầu. Khởi đầu chính là nó và kết thúc cũng chính là nó.

P.V: Nói như bà thì ở Việt Nam, dân ta đang thiếu Đạo?

Bà Phan Oanh: Đúng! Việt Nam thiếu Đạo. Đức, bây giờ chúng ta dạy đức quá nhiều. Thế hệ chúng tôi trước đi học cũng vậy. Những tiết luân lý nhiều lắm. Nhưng người ta dạy Đức mà không dạy Đạo. Cho nên lớn bé, già trẻ, đạo đức cứ xuống cấp. Và cái buồn da diết là hễ khi nhắc đến chữ Đạo, người ta lại có một khái niệm là: cậu này có đạo là nghĩ cậu hay đi lễ. Tệ hơn, người hay đi lễ là xếp vào dạng kém hiểu biết. Theo tôi, nếu nói người ấy có Đạo, có nghĩa là: Người ấy có văn hoá. Và hiện nay, chúng ta đang nhầm lẫn giữa tri thức với văn hoá. Người tri thức bây giờ hơi đông nhưng người có văn hoá bây giờ hơi hiếm.

Từ cái chữ Đạo, thước Đạo này, tôi mới giật mình, ông trời chỉ cho tôi cái thước này, tôi mới đem mọi việc âm, dương soi vào đây, thấy sai nhiều quá. Cũng phải sau 7 năm tôi tiếp nhận, thể hiện, 7 năm tôi tu, học, rèn, và đến năm thứ 7, tôi mới đủ trí tuệ thắp một nén nhang thưa với trời đất rằng: Con lạy ngài, con xin khước từ tất cả công danh sự nghiệp đời thường để con đổi lấy hai chữ… học trò. Vì sao? Vì trong 7 năm ấy tôi thấm thía cái thước đo vô hình, đó là thước Đạo. 7 năm ấy tôi thấm thía cái chúng ta bị thiếu hụt, đó là thiếu Đạo. Lạy Phật, đạo cao nhất và đạo cần thiết nhất, đó là Đạo làm người. Làm người chưa xong thì làm sao thành thánh, thành Phật, thành tiên được.

Tôi luôn nói với những người đến với tôi rằng, nếu như ai thích hiểu thì đến với tôi, còn nếu ai thích biết (muốn biết mình sướng hay khổ?) thì mời đi nơi khác. Đến với tôi mà muốn hiểu trong đời sống tâm linh có bao gồm những nội dung gì thì xin mời lưu lại ở đây, tôi hết lòng hết dạ đàm đạo. Vì sao? Vì trong đời sống tâm linh có đời sống vật chất, đời sống tinh thần. Cho nên con số 1 là con số vũ trụ, con số 2 là con số biến và con số 3 là con số hoá. Hiện nay chúng ta đang bị nhầm đời sống tâm linh với hiện tượng tâm linh mà ta qưen gọi là các nhà ngoại cảm. Bây giờ có rất nhiều nhà ngoại cảm lấy vợ bé, họ không tu đức, họ chẳng tu tâm. Họ cho rằng: giời cho tôi lộc, tôi được hưởng. Họ quên mất rằng, giời cho họ cái lộc ấy để họ là tấm gương sáng cho trăm họ soi. Họ quên mất rằng: Trời cho họ cái lộc này để họ làm phúc chứ không phải để họ lấy phần. Vì lộc có hai thứ: giá trị tinh thần là phúc âm. Giá trị cụ thể là phần. Mà lấy phần thì hết phúc. Lấy phúc phải nhẹ phần. Vì thế, bây giờ, có những cửa điện cửa đền người ta gọi là cái máy chém tiền. Một ngày họ thu vài chục triệu là chuyện thường. Và tôi sợ những người này, thương những người này, lo cho họ. Tôi không hiểu họ cần nhiều tiền thế để làm gì vì tôi cam đoan, họ có ăn yến đi chăng nữa, ngày họ cũng chỉ ăn đến ba bữa. Một bữa cơm ngon ăn quá thành bội thực. Trời cho lộc, làm việc âm phải lấy lộc âm là phúc. Chứ làm việc âm mà lấy lộc trần là phần thì xin lỗi, “lộc phật có gai”. Con cháu nay mai tha hồ trả không biết bao nhiêu cho kể.

P.V: Có phải vì thế mà người đời thường nói: “Làm việc âm bạc phúc lắm”  phải không, thưa bà?!

Bà Phan Oanh: Anh nghĩ như vậy hay anh trăn trở?

P.V: Tôi nghĩ như vậy và chiêm nghiệm như vậy.

Bà Phan Oanh: Đạo học phương Đông giống như cái tam giác cân. Tôi dùng từ đạo học phương đông chứ không dùng từ triết học phương đông. Nó có 3 đỉnh. Người được gọi là ngoại cảm phải học đủ 3 thứ này. Nếu không sẽ sai phạm. Thứ nhất, giới pháp luật, tức là anh phải hiểu. Hiểu rồi thì anh hãy biết. Biết rồi anh phải dạy cho trăm họ tu. Nhưng bây giờ tất cả thầy đồng, thầy bói, thầy cúng.. làm mỗi cái đỉnh biết này thôi. Chẳng hạn một ông thầy số bảo: năm nay anh năm tuổi phải làm lễ giải hạn đi. Thế là hì hà hì hụp lễ như tế sao. Không ai hỏi: “Tại sao phải lễ giải hạn?”. Hỏi sợ phạm thượng, sợ ông thầy đuổi thẳng cổ về: “Vớ vẩn, năm nay sao La hầu, Kế đô, không lễ chết. Bỏ tiền đây lễ”. Người lễ hoàn toàn không hiểu nhưng cứ phải lễ. Tức là lễ này không có nghĩa. Lễ phải đạt đến cái nghĩa cơ. Cho nên hiểu rồi hãy nên biết. Biết rồi thì phải tu. Còn lễ chỉ là một phương pháp cực kỳ nhỏ: một là báo công, hai là kêu cứu, ba là chắp tay trước ngực nói: “Mẹ ơi! Phúc nhà con thì mỏng, đức nhà con thì sơ nhưng kiếp này con đã thay cả nhà giác ngộ được Đạo rồi. Con nguyện từ nay cho con khoẻ để con lập công chuộc tội, con làm nhiều việc thiện”. Cái tu này, nói như dân gian là “đức năng thắng số” hay ý thức tác động trở lại. Và người làm ngoại cảm phải học đủ 3 cái này. Cái hiểu là lý, là ánh sáng để rọi đường. Cái biết là anh thực hành. Cái dạy cho trăm họ tu là anh tạo ra pháp có để anh lấy một chút công đức. Nếu anh làm đủ 3 cái này, không lo bạc phước.

“Mãi mãi tôi chỉ là một con tốt vô danh làmcông việc dẫn đường”

P.V: Như tôi được biết, có lẽ không có một quốc gia nào trên thế giới này lại sản sinh ra nhiều nhà ngoại cảm như ở Việt Nam. Bà lý giải gì về điều này?

Bà Phan Oanh: Ngay từ những ngày đầu có khả năng ngoại cảm, tôi đã nhận được thông tin: “Con ơi! Cuối thế kỷ 20 các nhà ngoại cảm Việt Nam sẽ nổi lên như mưa rào. Và những người tìm mộ sẽ rất đông để thoả mãn một nhu cầu bức thiết sau chiến tranh. Ngẫm đến bây giờ thấy hoàn toàn đúng. Như lúc đầu tôi đã nói, đó là những quà tặng mà hồn thiêng của trời đất, của sông núi, của liệt tổ liệt tông trao tặng. Và các nhà ngoại cảm là những người có duyên lành từ kiếp trước và ngàn vạn những mối nhân duyên nữa được tiếp nhận cái này.

P.V: Hiện nay, chúng ta chưa có một con số thống kê chính xác về số hài cốt liệt sĩ chưa tìm thấy sau chiến tranh nhưng ước chừng còn khoảng 300.000 hài cốt còn vùi xác thân trong rừng sâu, núi thẳm. Ngày ngày, vẫn còn hàng ngàn người mẹ, người vợ, người con đau đáu, khắc khoải, để rồi bằng mọi cách đi tìm hài cốt của chồng, con mình. Những cuộc đi tìm ấy vô cùng gian nan và tốn kém. Là người trong cuộc, bà nghĩ gì về điều này? Có cách nào giải quyết bằng tâm linh không?

Bà Phan Oanh: Có lẽ việc tìm mộ này sẽ diễn ra trong một thời kỳ lịch sử kéo dài từ 50 năm đến 70 năm. Sau 70 năm, chúng ta nên lập các đàn, không chỉ có cầu siêu mà xin cho các liệt sĩ đầu thai, chuyển nghiệp để đừng có lấn quấn với cái thân tứ đại làm gì. Bởi vì cái này nên rời bỏ, nên về các cảnh giới khác dù rằng cõi trung giới hay thượng giới mà làm cái công việc nó ân nghĩa hơn là cứ luẩn quẩn trong rừng sâu, khe đá cũng chỉ là ma mường, ma xó mà thôi. Và ước gì, dân tộc chúng ta, có một ngày 27 tháng 7 nào đó, chùa chùa, nhà nhà, cùng một lúc làm được việc này để cho cái sự rung động được cộng hưởng, nhân lên gấp nhiều lần. Trong đó, những người là nhân chứng lịch sử còn lại được hưởng những đặc ân, họ khởi được tâm, họ làm được. Và những chùa lớn đánh cùng một lúc tiếng chuông, chuông hiệu triệu, chuông cầu siêu, chuông hoá giải tất cả mọi nghiệp ai oán, ân oán, hờn oán, hận oán trong chiến tranh và xin với trời đất, xin Phật độ để cho những vị có công với quốc gia sớm được chuyển nghiệp đầu thai, làm những công việc lợi ích. Năm 2000, năm chuyển giao thế kỷ, ngày mở đạo của tôi, tôi đã viết những câu thơ thế này:

“Canh Thìn tiếng trống âm vang

Mẹ ơi! trống dậy thế gian chuyển mình

Lẽ trời sự biến sự sinh

Qua cầu binh lửa hiểu mình, hiểu ta

Chúng con kết một đàn hoa

Tạ ơn vũ trụ ông bà, tổ tiên

Tạ ơn triệu triệu người hiền

Đã dâng đã hiến đã yên lặng rồi.

Đã thành nhựa sống cho đời

Để cho cây đạo đâm chòi nảy hoa

Vinh quang bách họ tạo ra

Người còn tưởng nhớ người xa ân tình”

Tôi ước ao đội quân binh hùng tướng mạnh ấy vẫn là binh hùng, ngọn lửa chiến tranh  ấy vẫn là lửa thiêng. Cho nên đi đâu tôi cũng chỉ cầu xin Việt Nam sáng đạo. Và trong dân có đạo để dân tộc chúng ta hưng đạo. Và tôi vô cùng thấm thía những khi tiếp nhận được những thông tin từ cụ Trần Hưng Đạo. Cụ nói: “Con ơi! Ta yêu cái dân tộc này. Cho nên ngay cả khi ta về với gió, với mây, ta vẫn để lại một cái hiệu mà không biết bao nhiêu người hiểu được lòng ta: là Trần – Hưng – Đạo. Một nguyện ước thật là chân chính, giản đơn mà trong sáng vô cùng. Một con người bằng xương bằng thịt. Một vị thánh nhân và ngài đã thành bật tử.

Cho nên sẽ phải có cách hoá giải. Tôi cho rằng, những người dễ tính khi thác, họ về luôn với gió núi mây trời. Chỉ những người khó tính khi mất mới đòi tìm mộ. Người ta chấp, hận thì bắt phải tìm. Cho nên xin các ngài đại xá cho, cụ nào thiêng thì xếp vào loại khó tính. Có những gia đình đến đây, tôi có thể dự báo, không nên đi tìm. Vì người trong gia đình đó đã hết duyên, chẳng nợ, đừng đi tìm nữa. Nhưng có người ốp hẳn vào anh chị em, con cháu trong nhà, dẫn đi tìm bằng được.

P.V: Là một trong những người có khả năng ngoại cảm đầu tiên ở Việt Nam, tại sao khi Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người thành lập, bà lại không tham gia?

Bà Phan Oanh: Trước khi thành lập Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, các anh trong Ban giám đốc có đến mời tôi tham gia. Tôi nói với các anh ấy là: “Tôi luôn là người bạn tốt của các anh. Còn các nhà ngoại cảm, họ là những bậc thầy, xin các anh cứ rước họ vào. Tôi chỉ là bạn của các anh và lúc nào cũng xin sẵn lòng chia sẻ và đàm đạo”.

Có lần, tôi nói với anh Chu Phác (Thiếu tướng Chu Phác, chủ nhiệm Bộ môn cận tâm lý) rằng : “Anh Phác ơi! Trời sinh anh làm tướng, trời lại khai mở cho ông tướng có duyên tâm linh thì anh phải làm các việc lớn hơn những công việc đi tìm hiểu “mấy con ma”. Vì xin lỗi! Gọi hồn có hàng ngàn năm nay rồi, trong khi chúng ta còn quá nhiều những việc lớn phải làm. Ngay từ ngày đầu, tôi đã nói với anh Ngô Đạt Tam (Giám đốc Trung tâm): “Khi các anh thành lập một trung tâm nghiên cứu tiềm năng lớn như thế này, thì việc số một các anh có thể giúp được dân tộc này là nhân danh làm khoa học, các anh tìm hiểu và hiệu triệu đủ cho tôi 10 nhà phong thuỷ. 5 người giỏi bằng sách, 5 người giỏi bằng duyên trời để giúp dân tộc này bước vào thời kỳ phục hưng dựng nước. Chúng ta phải rà soát lại toàn bộ phong thuỷ của Việt Nam. Đó là đất đai, sông núi. Chúng ta phải xem tất cả những đại huyệt ấy, đại huyệt nào tắc, huyệt nào bị yểm, huyệt nào chưa thông, bị phá, chỗ nào phải phục long, đảo long, khai long… Nhưng họ đã không làm được. Toàn mất thời gian đi xem gọi hồn gọi cốt, tìm mộ tìm mung. Tôi còn dặn thêm: Anh ơi! Mời các ông này để phục vụ sơn hà xã tắc nhưng phải mở ngoặc đơn, nói với các ông bà ấy đứng trong hậu trường. Chứ đừng đòi ngồi vào ghế Bộ chính trị. Có nhiều người lầm tưởng, tôi được nhà nước trọng dụng, nay mai được ngồi vào ghế này, ghế kia, thế là tự nhiên họ thành ra mặc cả. Đã âm thì phải ẩn, đã dương thì được hiện. Đó là luật. Tiếc rằng, bây giờ không ai hiểu luật. Họ quay sang pháp quyền. Đạo có 2 phần luật và pháp. Bây giờ người ta thiên về pháp, thích quyền năng. Còn luật chính là ánh đuốc để soi đường thì người ta lãng quên. Ngay cả tu phật cũng vậy. Người ta cũng thích pháp quyền hơn. Chứ còn cái giáo lý để giúp cái tâm đạt đến thông giác ngộ thì lại quá ít.

P.V: Không tham gia Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, vậy bà đứng ở vị trí nào trên bàn cờ tâm linh Việt Nam?

Bà Phan Oanh: Chức năng của tôi mà tôi thu nhận từ người Mẹ thiên nhiên là: Mãi mãi con chỉ là một con tốt vô danh làm công việc dẫn đường, một công việc thật tầm thường nhưng rất khó. Người dẫn đường phải hiểu rõ trước mặt mình là vực thẳm hay núi cao, bên cạnh mình là hổ phục hay rắn leo. Con dẫn đường lạc đạo cho bách gia trăm họ, con đắc tội với trời. Con dẫn đúng đường, con được công được đức. Con khắc cốt ghi xương điều này. Sống, tu cho ra trò. Chết hãy ra thầy. Ngần ấy từ là toàn bộ ván cờ của tôi. Các ngài đã bày cờ rồi. Đã tiểu tốt lại vô danh thì có nghĩa trên bàn cờ tôi không có chỗ nào đứng cả. Có một nhà ngoại cảm trong Sài Gòn 3 lần hỏi tôi: Chị Oanh ơi! Chị có sứ mệnh bày cờ không?”. Tôi bảo: “Không”. “Chị có chỗ đứng trên bàn cờ không?”. Tôi bảo:  “Càng không có”. Các bạn đi trên đường đạo, có thể đến ngã 3, ngã 5, có thể đến lối rẽ, các bạn có thể dừng một nhịp. Nếu Oanh có duyên thì chúng ta gặp nhau. Và chức năng của Oanh là chỉ đường. Và khi Oanh chỉ đường, mời các bạn cứ việc đi. Và nếu như đến cái chỗ bày cờ, các bạn ngồi vào vị thế, Oanh không có chỗ ngồi trên bàn cờ. Và không có trên bàn cờ thì người chỉ đường mới có một chút giá trị. Chứ tôi vừa chỉ đường xong, rồi bảo bây giờ các anh ngồi vào đây nhớ, còn chỗ này là của tôi nhớ thì chả còn là Oanh nữa rồi.

P.V: 25 năm làm tâm linh, điều gì khiến bà đau đáu, trăn trở nhiều nhất?

Bà Phan Oanh: Điều khiến tôi xót xa là nhà nước Việt Nam thả nổi mảng này. Chả có ai hướng dẫn. Biết bao người có duyên vì không có người hướng dẫn mà họ đi lạc đạo, biến luôn Phật thánh thành hàng hoá. Có một chị làm công việc tôn giáo của sở văn hoá Hà Nội đến gặp tôi để đàm đạo. Tôi có hỏi một câu: “Hỏi thật em nhé. Nhân danh em làm văn hoá, phụ trách tôn giáo của thủ đô, đã bao giờ em tập hợp tất cả những bà đồng cao thủ của Hà Nội để nghe người ta nói về đaọ thánh chưa em?”. Cô ấy đáp: “Em chưa làm”. Tôi bảo: “Thế bây giờ bản thân em quản lý về tôn giáo mà không nghe người ta nói thì làm sao hiểu được. Không hiểu mà lại đề ra phương án, hướng dẫn người ta thì càng thật là vô duyên. Cứ mời người ta đến theo tinh thần học hỏi. Các ông bà cứ nói thoả mái những cảm nhận của mình về đạo mẫu, đạo bản địa của Việt Nam. Và chúng tôi, nhân danh những người quản lý của nhà nước,  xin chân thành cầu thị học hỏi để  xem, để thấy sức mạnh của đạo Mẫu. Và các vị có thể hiến kế làm thế nào để đưa đạo Mẫu thật trật tự. Và cuối cùng là giữ được cái cốt cách thanh cao, những giá trị rất quý của đạo Mẫu”. Thế nhưng cô quản lý tôn giáo ấy đã không làm. Chỉ làm một việc này: “Xem ông này có khả năng tâm linh, ngoại cảm, có đơn vị, cá nhân nào tài trợ không? Có làm gì ảnh hưởng đến chính trị, an ninh của sơn hà xã tắc không? Có tổ chức phản động nào núp sau không? Nếu không thì thôi. Chấm hết. Tôi cũng từng được người ta xem như vậy.

Nếu nhìn đủ một vòng tròn, chúng ta sẽ nhìn được giá trị của các bậc thầy đó. Họ là con tốt, con mã, con xe, pháo trên bàn cờ thì ta vẫn trân trọng. Nếu tôi là nhà nước, tôi phải xếp như thế nào để họ có chỗ đứng. Và phải hướng dẫn như thế nào để trăm họ đừng lạc đường, cứ chớm một tý lại đến thầy bói để hỏi. Khi chơi cờ mà anh không đủ trí tuệ đánh là anh bí cờ. Bí cờ mà đi hỏi là đánh cờ rất dốt. Cho nên cái việc đạo, nó chứa đựng những công việc như thế. Chứ việc đạo không phải là việc xem tướng, xem số, gọi hồn, cầu cúng, tế lễ, giải hạn, ngồi đồng… Đó chỉ là phương pháp thôi. Mà trong cái bầu hồ lô này có hàng tỷ pháp. Lúc nào cần, am hiểu, anh sẽ nhờ pháp ấy, đó là kẻ thông minh. Chứ nếu không nó nhiễu loạn sẽ vô cùng khó cho mọi người.

P.V: Xin cảm ơn bà về cuộc trò chuyện thú vị này!

H.A.S

Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Kỳ 15: TRỞ VỀ QUÊ MẸ

Bà Tạ Thị Xuyến, em gái LS Câu bên bàn thờ chị gái

Đặt chân đến Hà Nội hôm trước, ngày hôm sau, tôi xuống thẳng Hoàng Mai để khảo sát địa hình, đồng thời, để kiểm chứng tính xác thực của những thông tin mà các nhà ngoại cảm Bích Hằng, Dương Mạnh Hùng, Nguyễn Khắc Bảy, Thẩm Thúy Hoàn, Nguyễn Văn Nhã… cung cấp. Tôi thấy mộ bác Câu tôi là một mô đất đen, nằm cạnh con đường xi măng nhỏ, gần một vũng nước dài đến 2m, rộng chừng 1m. Mộ nằm trong khoảnh đất trống rộng độ 30m2, xung quanh là nhà dân với tường bao quanh che kín hết. Muốn ra mộ, tôi phải đi qua nhà chị Ngà. Gia đình chị ở đây đã lâu nên quá quen thuộc với các cuộc tìm kiếm, bốc mộ. Chị đã cho tôi nhiều lời khuyên bổ ích. Quan sát kỹ, tôi thấy cái khoảnh đất mấy chục mét vuông này còn rất nhiều ngôi mộ khác, trong đó, có chừng 10 ngôi đã dựng bia. Bất chợt, mắt tôi bị hút vào ngọn cây đại nhô lên từ bức tường hướng tây, cách mộ bác Câu hơn 3m. Tôi thấy cả lùm cỏ khô ở trên cao hơn 1m vì lùm cỏ này mọc trên một cái ống xi măng dựng đứng. Điều đặc biệt là ngày 18 tháng 12 năm 2000, tức là đúng 5 ngày sau cuộc điện đàm với nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã, tôi cùng thiếu tướng Chu Phác xuống thực địa lần nữa thì bất ngờ gặp một con gà trống mào đỏ au đang tha thẩn đào bới kiếm mồi ở gần mộ bác Câu. Kỳ lạ hơn nữa khi chị Ngà cho biết, con gà này là của chị, vốn thường ngày chị nhốt ở trong chuồng. Nhưng không hiểu sao, sáng nay đã bảnh mắt rồi mà nó cứ đập cánh gáy ran rồi lồng lộn trong chuồng. Bực mình, chị mở cửa chuồng cho nó ra đúng lúc tôi và thiếu tướng Chu Phác đến. Tôi vô cùng ngạc nhiên về chuyện này. Điều đó càng khẳng  định thêm độ chính xác cho thông tin của anh Nhã.

Đến lúc này, gia đình tôi xác định với thiếu tướng Chu Phác: vị trí mộ bác Câu chính xác đến hơn 90% rồi. Tất cả những thông tin của các nhà ngoại cảm về địa hình, địa vật, đường dẫn đến ngôi mộ… hầu hết trùng khớp, tuy cách diễn đạt có khác nhau và có đôi chút sai lệch. Cần phải tổ chức bốc mộ sớm vì đã năm cùng tháng tận, vả lại, tôi cũng không thể ở Hà Nội lâu được. Sau khi cân nhắc kỹ, gia đình tôi quyết định chọn ngày 27 tháng 12 (tức mồng 2 tháng chạp) sẽ tiến hành khai quật mộ bác Câu.

Chờ đợi 9 ngày trời mà sao tôi thấy dài đằng đẵng như 9 năm. Để khỏi sốt ruột, gia đình tôi về quê làm việc với huyện Tiền Hải, đào và xây sẵn mộ trong nghĩa trang liệt sĩ của huyện, chuẩn bị cho lễ truy điệu bác Câu. Cuối cùng, ngày 27 cũng đến. Tôi vẫn nhớ, trời hôm đó tuy cuối đông nhưng rất ấm áp, nắng vàng như mật. Cả gia đình tôi kéo xuống làng Hoàng Mai. Cha tôi tuy đau yếu cũng cố đi. Cha muốn tận tay thắp hương và khấn người chị yêu quý của mình. Những thủ tục tâm linh cần thiết đều làm trọn vẹn. Đúng 9 giờ sáng, những nhát cuốc đầu tiên bập vào ụ đất thấp lè xè bên đường. Bỗng dưng tôi thấy hoang mang lạ. Vì lúc này, không có một nhà ngoại cảm nào bên cạnh chúng tôi. Bích Hằng thì đang ở tít tận Tây Nguyên. Các nhà ngoại cảm khác, người thì bận đi học, người thì đi công tác. Tìm hiểu về các vụ tìm mộ trước đó, tôi biết, không phải trường hợp nào cũng tìm thấy hài cốt. Bởi khi đào thực địa, có thể có những sai lệch. Biết đâu, trường hợp bác Câu tôi cũng thế thì sao?

Đào bới chừng hơn một tiếng đồng hồ thì tốp thợ buộc phải dừng lại vì mặt trời đã lên gần đến đỉnh đầu, ánh nắng quá rực rỡ sợ làm tổn thương hài cốt. Chờ đến tận 4 giờ chiều, công việc khai quật mới lại tiếp tục. Hố đào sâu chừng 70 cm rồi mà vẫn chưa thấy dấu tích gì. Nước mạch tràn vào ào ạt khiến tốp thợ phải hì hục vừa đào vừa tát. Thiếu tướng Chu Phác vội điện thoại cho nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã. Từ thành phố Hồ Chí Minh, anh Nhã chỉ dẫn:

– Đào sâu thêm 60 – 70 cm nữa.

– Đào chếch về phía người thợ mặc áo xanh nhạt.

– Đào về phía rãnh nước.

Anh Nhã còn nhắc nhở cần phải khấn các vong linh xung quanh đó phù hộ cho bớt nước ở  các mạch tràn vào huyệt. Tôi vội vàng thắp hương khấn vái. Và kỳ lạ thay, chừng 10 phút sau, lượng nước chảy giảm hẳn, công việc đào bới trở nên thuận lợi rất nhiều.

Cũng qua điện thoại, nhà ngoại cảm Thẩm Thuý Hoàn chỉ dẫn thêm:

– Đào về phía rãnh nước.

– Đào sâu đến 2m.

– Đào vuông thành sắc cạnh, đừng đào lòng chảo.

Thực hiện đúng như chỉ dẫn, tốp thợ đào miết đến 21h 30, độ sâu chừng 2m thì lưỡi xẻng chạm vào một cái tiểu sành. Tôi càng hoang mang. Vì trước đó, không một nhà ngoại cảm nào nói bác tôi nằm trong tiểu. Bích Hằng chỉ nói bác tôi chết trong tình trạng người bị phù, chôn trong tư thế nằm nghiêng. Các nhà ngoại cảm khác, người thì nói bác tôi được chôn trong hòm gỗ, người thì bảo không có hòm. Cha tôi còn hoang mang hơn. Ông suy luận: khoảng những năm 1940, thân phận một người tù, hơn thế, một người tù cộng sản như bác tôi, không thể được chôn cất chu đáo, tử tế như thế. Cùng lắm thì được chôn trong chiếc quan tài bằng gỗ tạp, còn thường thì bó chiếu. Bởi vậy, cha tôi nghĩ, hài cốt bác Câu chỉ là những mẩu xương nằm lẫn trong bùn đất đen. Khi tìm thấy, phải nhặt kỹ càng cho bằng hết.

Bỗng dưng tôi sực nhớ đến lời anh Nhã nói qua điện thoại hôm tôi ở sân bay chuẩn bị ra Hà Nội: “Tôi linh cảm thấy hài cốt của bác Câu còn nguyên vẹn vì tín hiệu phát ra mạnh lắm. Chính vì tín hiệu mạnh này mà nhiều nhà ngoại cảm đều có thể tìm thấy mộ”. Tôi vội vàng điện thoại ngay cho anh Nhã, thông báo đã chạm tiểu. Anh bảo: “Đúng là hài cốt của bác Câu rồi. Trước đây, có một gia đình đã đào để tìm mộ nhưng thấy nhầm lẫn nên họ đã đưa hài cốt bác Câu vào tiểu và chôn cất lại cẩn thận. Đó là nghĩa cử thường thấy ở nhiều địa phương”. Những người dân xung quanh đứng xem từ chiều cũng khẳng định: ở khu đất trống này do có nhiều mộ nên chuyện đào nhầm thường xảy ra. Và để tạ lỗi với người đã khuất, bao giờ khổ chủ cũng đưa hài cốt vào tiểu sành chôn lại tử tế. Trường hợp bác Câu không phải là cá biệt.

Mộ phần LS Tạ Thị Câu tại quê nhà

Chiếc tiểu đựng hài cốt bác Câu tôi có tuổi thọ khá tốt. Vùi sâu dưới lòng đất mấy chục năm rồi mà thành tiểu vẫn rắn như đanh. Khi mở nắp tiểu, tôi đã bật khóc vì xúc động và sung sướng khi thấy hài cốt của bác gần như còn nguyên vẹn. Xương sọ còn nguyên. Những người thợ đào nhận xét: xương chân tay to thế này chứng tỏ người mất rất cao lớn. Cha tôi gật đầu xác nhận. Và khi đưa ảnh của bác Câu cho họ xem để đối chiếu với xương sọ, họ bảo rất khớp. Đây đúng là mộ bác Câu. Riêng tôi, có một bằng chứng khiến tôi hoàn toàn tin tưởng đây chính là hài cốt của người bác ruột mình. Đó là hai hàm răng đen gần như còn nguyên vẹn, chỉ thiếu duy nhất một chiếc, đúng như tín hiệu mà nhà ngoại cảm Dương Mạnh Hùng đã cung cấp.

22h30, việc chuyển hài cốt bác tôi sang tiểu mới, có rửa nước thơm, ướp trà thơm, bọc trong vải đỏ đã xong. Tôi và Quang, người em ruột vội về nhà lấy ảnh, bia khắc sẵn và bát hương rồi ngay đêm hôm ấy, đưa bác tôi về Tây Giang, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, về chính mảnh đất mà bác tôi đã sinh ra và lớn lên. Ngày 28 tháng 12 năm 2000, lễ truy điệu bác tôi được cử hành trọng thể và hài cốt được đưa vào yên nghỉ tại nghĩa trang của huyện, chấm dứt 56 năm bơ vơ nơi đất khách quê người.

H.A.S

Ông Trần Toàn Thắng: Qua hành trình tìm mộ liệt sĩ Tạ Thị Câu, tôi thấy khả năng đặc biệt của các nhà ngoại cảm là có thật. Tuy nhiên, các thông tin họ đưa ra, không thể lúc nào cũng chính xác 100%. Vì sự thu nhận của họ (trông thấy và nghe thấy) có nhiều yếu tố thời gian và không gian tác động. Bởi vậy, Bộ môn cận tâm lý đã có một cách làm rất khoa học, đó là lựa chọn các thông tin trùng khớp nhau của nhiều nhà ngoại cảm để tìm ra những thông tin gần với sự thật nhất. Việc làm của họ có ý nghĩa rất lớn, giúp bao gia đình xoa dịu nỗi đau vì mất người thân. Tôi thấy đó là những năng lực lớn. Tôi ủng hộ họ và ủng hộ cách làm có tính khoa học dựa vào các tiềm năng con người vì con người.

Kỳ 16: Cuộc trò chuyện đặc biệt giữa nhà báo Hoàng Anh Sướng và nhà văn hoá tâm linh Phan Oanh xung quanh những vấn đề về thế giới tâm linh:

“ĐI ĐÂU TÔI CŨNG CHỈ XIN CHO DÂN VIỆT NAM SÁNG ĐẠO”

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.