Feeds:
Bài viết
Bình luận

Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Kỳ 14: HÀNH TRÌNH TÌM MỘ CHỊ GÁI CỦA GIA ĐÌNH TƯỚNG TRẦN ĐỘ

“Bác Câu tôi hy sinh được 13 năm, tôi mới cất tiếng khóc chào đời. Nhưng hình ảnh của bác, cuộc đời hoạt động cách mạng đầy chông gai và cả cái chết đầy thương cảm của bác vẫn mãi sống trong tâm trí tôi qua lời kể của bà, của cha. Tôi vẫn nhớ như in hồi còn nhỏ ở với bà, vào những đêm trăng sáng, bà thường kể cho tôi nghe về bác Câu. Có những chuyện, bà kể đi kể lại nhiều lần như một niềm thôi thúc. Và lần nào cũng thế, câu chuyện đều bị bỏ giữa chừng vì tiếng khóc tắc nghẹn của bà. Bà vừa nghẹn ngào khóc, vừa xót xa kể lể: Bác Câu tôi từ lúc sống cho đến lúc chết, chưa một ngày được an nhàn, sung sướng. Mới tẹo tuổi đầu đã phải lam làm suốt ngày để giúp mẹ nuôi các em. Lớn lên đi theo cách mạng rồi biền biệt không về. Rồi tù đày, bị đánh đập, tra tấn dã man. Đến lúc chết cũng cô độc một mình trong tù. Mồ mả mất tích nơi nào chẳng ai rõ. Khổ thân bác, không chồng con, chẳng ai hương khói. Tiếng khóc tắc nghẹn của bà khiến tôi cũng sụt sùi khóc theo. Nghĩ mà thương bà, xót thương cho bác Câu quá. Tôi an ủi bà: “Bà ơi! Bà đừng khóc nữa. Sau này lớn lên, cháu sẽ đi tìm mộ bác Câu về cho bà”. Thế mà, cũng phải ngót 50 năm sau, lời hứa ấy, tôi mới thực hiện được”. Câu chuyện về hành trình đi tìm mộ nữ liệt sĩ Tạ Thị Câu được bắt đầu bằng những dòng hồi ức buồn, đầy tâm trạng của ông Trần Toàn Thắng, con trai cả của tướng Trần Độ.

Di ảnh LS Tạ Thị Câu

Bà nội tôi sinh hạ được 4 người con. Cha tôi, tướng Trần Độ (tên thật là Tạ Ngọc Phách – PV), thứ 3. Chị thứ hai giáp cha tôi là bác Tạ Thị Câu. Cô Tạ Thị Xuyến là út. Ông nội mất sớm, bà ở vậy, một nách nuôi 4 con. Bác Câu hơn cha tôi 4 tuổi, thường đi buôn bán các chợ xa phụ giúp bà. Bác Câu yêu quý cha tôi lắm, thường mua quà và kèm cặp cha học hành. Bác hay khoe với bạn bè về cha với một niềm tự hào rất lớn. Ngay từ năm 17 tuổi, khi phong trào dân chủ vừa nổ ra, bác đã tham gia hoạt động cách mạng. Cho đến năm 1939, bác đã là Tỉnh uỷ viên tỉnh Thái Bình. Chính bác là người đã dìu dắt cha tôi đến với cách mạng, trực tiếp thử thách, khuyến khích rồi giới thiệu cha tôi vào Đảng. Năm 1940, ở làng tôi (thôn Thư Điền, xã Tây Giang, huyện Tiền Hải, Thái Bình) nổ ra cuộc mít tinh ở cánh đồng Đông Lang. Bị lính phủ và tuần phiên khủng bố đẫm máu, Bác Câu và cha tôi nửa đêm vượt cánh đồng đi làm cách mạng chuyên nghiệp. Nghe đâu, bác làm việc cho xứ uỷ Bắc Kỳ nhưng cụ thể làm gì thì tôi không được rõ.

Năm 1941, cha tôi bị giặc bắt, chịu án 15 năm tù rồi bị đày lên Sơn La. Cũng thời gian đó, bác Câu bị bắt. Giặc giam bác ở nhà tù Hoả Lò cùng với nhiều chiến sĩ kiên trung, trong đó có bác Nguyễn Thị Minh Thái (Vợ trước của Đại tướng Võ Nguyên Giáp), bác Trương Thị Mỹ (sau là chủ tịch liên đoàn lao động Việt Nam) và bà Nguyễn Thị Hằng (sau này lấy cha tôi). Trong suốt mấy năm trời, hai chị em vẫn thường xuyên liên lạc thư từ. Và bác Câu, vẫn là người chị thảo hiền, yêu em hết mực, thỉnh thoảng vẫn gửi quà và xé áo của mình khâu những chiếc khăn gửi lên cho cha để chống trọi với cái giá lạnh miền sơn cước. Thế rồi, năm 1944, trên đường bị giặc giải từ Sơn La về Hoả Lò (Hà Nội) để đầy đi Côn Đảo, cha tôi được Chi bộ nhà tù tổ chức cho trốn thoát. Từ đấy, hai chị em bặt tin nhau. Sau này, cha tôi nghe mọi người kể lại, bác Câu bị ốm chết trong nhà tù Hoả Lò. Giấy báo tử của chính quyền Pháp gửi cho bà nội tôi ghi: bác mất ngày 29 tháng 9 năm 1944. Cái chết của bác khiến cả nhà khóc thương, nhất là cha tôi. Ông xót xa bảo: Nếu bác Câu sống thêm mấy tháng nữa, bác sẽ được chứng kiến ngày cách mạng thành công. Bác chết trẻ quá, 25 tuổi đầu, hình như trong đời chưa một lần được yêu. Càng xót xa hơn khi không biết hài cốt bác giặc chôn ở nơi nào?

Chưa kịp đi tìm mộ bác thì cả nước lại bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp, bụi trường chinh cuốn cha đi. Thỉnh thoảng, cha về, cả nhà lại sụt sùi khóc nhớ thương bác. Cha bảo: “Bác Câu bị ốm đau chết trong tù, chắc là Pháp chôn qua quýt ở đâu đó. Rất có thể là ở khu vực trường bắn của Pháp ở Hoàng Mai, nơi bác Hoàng Văn Thụ bị bắn”. Sau này, vào đầu những năm 90 của thế kỷ 20, khi những thông tin về việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ của các nhà ngoại cảm Việt Nam đăng rầm rộ trên các báo, đài, nhất là khi được nghe Giáo sư Trần Phương kể tường tận hành trình đi tìm mộ người em gái vốn là đội trưởng đội nữ du kích Hoàng Ngân, cha tôi và cả gia đình mới loé lên hy vọng tìm thấy mộ bác Câu. Tôi nhớ, khoảng năm 1997, qua một người quen giới thiệu, cha tôi đã liên lạc được với nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên, người đang nổi tiếng với việc chỉ dẫn tìm kiếm hàng ngàn hài cốt liệt sĩ. Qua điện thoại, cha tôi nói: “Tôi có một người chị gái bị tù ở Hoả Lò rồi ốm chết trước cách mạng tháng Tám. Không biết bây giờ mộ ở đâu?”. Anh Liên bảo: “Còn mộ đấy, có thể tìm được. Ông đứng trước cửa Hoả Lò, chiếu thẳng về hướng Nam, cách khoảng 2 km, mộ sẽ nằm ở đó. Nhưng tôi sợ bây giờ nhà cửa của dân xây san sát như thế, mộ nằm phía dưới sẽ rất khó tìm đấy”. Cha tôi đối chiếu bản đồ, thấy rõ khu vực ông Liên chỉ là vùng Bạch Mai, Hoàng Mai bây giờ. Cha tôi sực nhớ đến thiếu tướng Chu Phác, người đồng đội cũ, hiện là Chủ nhiệm bộ môn Cận tâm lý (Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người).

Thiếu tướng Chu Phác

Ông quen biết khá nhiều nhà ngoại cảm nổi tiếng như Nguyễn Văn Liên, Phan Thị Bích Hằng, Nguyễn Khắc Bảy, Thẩm Thuý Hoàn, Dương Mạnh Hùng, Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Thị Phương. Cha tôi liền tìm đến thiếu tướng nhờ giúp đỡ. Ông vui vẻ nhận lời và lên kế hoạch tìm mộ gồm 2 bước:

Bước một, nhờ một số nhà ngoại cảm, hoạt động độc lập, bằng khả năng đặc biệt, rất riêng của mình, thu nhận thông tin về bác Câu. Sau đó, sẽ đối chiếu các thông tin ấy với nhau, tìm ra một đáp số chung nhất.

Bước hai, từ đáp số chung ấy sẽ tiến hành làm các thủ tục khai quật. Khi khai quật vẫn phải có sự tham gia của các nhà ngoại cảm trực tiếp hoặc gián tiếp (qua điện thoại), theo dõi, hướng dẫn và điều chỉnh cho đến khi tìm được hài cốt.

Ngày 4 tháng 8 năm 2000, thiếu tướng Chu Phác cùng nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy đến nhà tôi ở Trần Hưng Đạo (Hà Nội). Anh Bảy ngồi đối diện với cha tôi, chăm chú nhìn vào trán ông, miệng hỏi, tay vẽ sơ đồ. Anh Bảy cho biết: Mộ bác Câu tôi hiện vẫn còn, nằm gần mộ ông Hoàng Văn Thụ, trong vùng bãi bắn Hoàng Mai. Mộ bác ở cạnh một vũng nước, trong khu vực có nhiều mộ. Có những bộ hài cốt đã chuyển đi. Khu vực này có những công trình kiến trúc lớn như đình, chùa, trường học, xưởng máy. Đường xá vào đó khá ngoằn ngoèo.

Ngày 25 tháng 11 năm 2000, thiếu tướng Chu Phác lại dẫn một nhà ngoại cảm khác là Nguyễn Mạnh Hùng đến gặp cha tôi.

Nhà ngoại cảm Dương Mạnh Hùng

Anh Hùng sinh ngày 15 tháng 6 năm 1959 trong một gia đình làm nghề đông y lâu đời ở 35 phố Lãn Ông, quận Hoàn Kiếm (Hà Nội). Anh đã từng tốt nghiệp trường trung cấp y học Tuệ Tĩnh, có tay nghề bốc thuốc. Được ông cha truyền thủ thuật bắt mạch bệnh nhân, đặc biệt là bắt mạch thái tố, Dương Mạnh Hùng thấy dần hình thành trong mình khả năng ngoại cảm. Qua việc đặt 3 ngón tay lên mạch ở cổ tay đối tượng, Hùng có thể thấy một phần quá khứ, hiện tại và tương lai của họ, thấy một số điều về tổ tiên, cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cái, thấy địa hình, địa vật nơi mồ mả cần tìm… Với cha tôi, anh cũng làm vậy. Bắt mạch thái tố cho cha tôi, anh hỏi: “Trong nhà bác có người phụ nữ nào chết từ lúc còn rất trẻ không?”. Cha tôi trả lời: “Có anh ạ! Đó là bà chị tôi. Hiện tôi đang muốn tìm mộ chị ấy”. Cha tôi vừa nói dứt lời, anh Hùng đã nhìn xoáy vào góc phòng, miệng lẩm bẩm: “Đã xuất hiện rồi”. Cha tôi sốt sắng hỏi: “Anh nói cái gì. Ai xuất hiện cơ ạ?”. Anh Hùng vẫn khẽ khàng: “Chị gái bác ấy”. Nói đoạn, anh bảo cha tôi đưa cho tờ giấy trắng và cái bút rồi phác thảo ngay một khuôn mặt phụ nữ. Cha tôi nhìn, giật mình thấy khuôn mặt trong giấy giống chị Câu như đúc. Từ đấy, anh Hùng cứ nắm chặt lấy cổ tay cha tôi, mắt nhìn chăm chú vào góc phòng và bắt đầu trò chuyện. Cha tôi muốn rút tay ra nhưng anh Hùng bảo: “Cháu rời tay bác ra là bà ấy biến mất ngay”. Anh Hùng cứ thủ thỉ trò chuyện như thể bác Câu tôi đang đứng ngay trước mặt anh. Cuộc nói chuyện khá dài, tôi không nhớ hết. Tóm tắt những thông tin thu được là: Bà Câu là một người con gái trẻ đẹp, to cao, bị ốm phù nề rồi chết. Mộ bây giờ ở một nơi giống bãi tha  ma. Muốn đi tới đó, phải qua những con đường ngoằn ngoèo có tên là Bạch Mai, Trương Định, Hoàng Mai. Mộ ở gần một ngôi chùa và đình, gần một hàng nước mà ông chủ hàng là một ông già độ 60 tuổi tên Trúc có bà vợ tên Thu. Vong bà Câu hay về nhà ông Trúc. Dân quanh vùng làm nghề đậu phụ, gần một cái chợ. Gần mộ bà Câu có một cây hoa râm bụt đỏ, một cây hoa trinh nữ trắng, cạnh một bãi phẳng như sân bóng. Bà Câu chết vào năm Giáp Thân (1944), vào mùa thu, tháng 8, đêm 26 rạng ngày 27 âm lịch. Cứ như trí nhớ của mẹ tôi (bà Nguyễn Thị Hằng – PV), người đã ở tù cùng bác Câu thì một buổi sáng, mẹ đến làm vệ sinh cho bác đã thấy bác nằm chết cứng. Có thể, bác chết lúc gần sáng. Bác chết năm trước thì năm sau Nhật đảo chính Pháp. Vì thế, mẹ cứ tiếc bác Câu tôi không sống thêm mấy tháng để trốn khỏi nhà tù. Năm sau là năm 1945, vậy năm trước đúng là năm 1944 (Giáp Thân).

Anh Hùng cho biết thêm: Hài cốt của bác Câu còn có một chứng tích, đó là hàm răng đen của bác bị gãy mất một cái. Bác đồng ý cho gia đình tôi bốc hài cốt bác đưa về quê. Anh Hùng hai lần hỏi bác câu này và cả hai lần, bác Câu gật đầu.

Trong suốt hai ngày, 26 và 27 tháng 11 năm 2000, thiếu tướng Chu Phác đã đưa 3 nhà ngoại cảm là Nguyễn Khắc Bảy, Dương Mạnh Hùng và Thẩm Thuý Hoàn đi thực địa. Họ đến làng Hoàng Mai, tìm đến chùa Nga My và ngôi đình làng, nơi thờ tướng quân Trần Khát Chân, ra khu vực nghi ngờ có mộ bác Câu tôi. Điều kỳ lạ là tất cả những gì hiện hữu trước mặt lúc ấy đều trùng khớp với những thông tin mà các nhà ngoại cảm cung cấp từ trước. Đình, chùa, bãi đất phẳng như sân bóng, một khu đất trống rộng chừng mấy chục m2 có rất nhiều mộ. Mộ bác Câu tôi nằm bên cạnh một vũng nước, cách cây hoa đại trắng chừng 3-4m. Cây đại cao hơn bức tường bao quanh, cạnh một bụi cỏ khô mọc trên một chiếc thùng phuy đã hoen rỉ. Mộ chỉ là một mô đất cao độ 10 -20 cm, bên cạnh con đường xi măng nhỏ, phía sau đình và gần chùa. Nhà ngoại cảm Thẩm Thuý Hoàn còn cung cấp thêm thông tin: mộ bác Câu nằm chếch, đầu gối vào cột trụ, bị cột trụ đè lên một ít, chân hướng về phía đường đi.

Cũng trong ngày 26 tháng 11, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng đã có cuộc gọi hồn bác Câu tôi tại văn phòng của Bộ môn cận tâm lý ở 46 Nguyễn Văn Ngọc (Hà Nội). Thông tin Bích Hằng nhận được là: Đến làng Hoàng Mai hỏi chùa Nga My, cách một khu vườn vài chục mét. Mộ nằm ở nơi đất bằng phẳng, cạnh gốc cây chuối gần chùa Nga My và đền thờ Trần Khát Chân. Có cây hoa đại, mộ nhìn lên hàng rào dây thép gai ở đầu nhà dân. Bác Câu mặt bị sưng to và nằm nghiêng, sâu độ 70 -90cm. Mộ không có tiểu, khi đào phải cẩn thận.

Như vậy, các thông tin mà các nhà ngoại cảm thu nhận được về phần mộ bác Câu tôi khá đầy đủ, chi tiết. Điều đặc biệt là tuy các nhà ngoại cảm làm việc độc lập với nhau song các tín hiệu đưa ra có nhiều điểm trùng hợp. Điều đó khiến cả nhà tôi vui mừng và tràn đầy hy vọng, nhất là cha tôi. Ngày 13 tháng 12 năm 2000, cha tôi điện thoại vào thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu tôi thu xếp công việc ra Hà Nội để thay cha tìm mộ bác. Cha tôi lúc này đã 78 tuổi, lại đang vào giai đoạn cuối của bệnh tiểu đường nên sức khoẻ sa sút trầm trọng. Tôi là con trưởng, lại sẵn tình cảm xót thương bác Câu nên nhanh chóng sắp xếp hành lý ra Hà Nội ngay. Trước khi lên máy bay, thiếu tướng Chu Phác có điện thoại cho tôi, yêu cầu tôi liên lạc với nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã ở thành phố Hồ Chí Minh.

Nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã

Qua điện thoại, anh Nhã cung cấp thông tin:

–           Vị trí mộ đúng như các nhà ngoại cảm ở Hà Nội đã xác định.

–           Cách mộ hơn 3m về phía tây có một cây hoa đại trắng cao hơn 3m.

–           Cách mộ chừng 1,5m có bụi cỏ khô cao hơn 1m.

–           Trên mộ có 3 mảnh thuỷ tinh hoặc sành lấp lánh.

–           Mộ gần vũng nước.

–           Năm ngày nữa anh đến, cách mộ mấy mét có con gà trống kiếm ăn ở đó.

Kỳ 15: TRỞ VỀ ĐẤT MẸ

Advertisements

Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Kỳ 13: Chuẩn bị cho cuộc tìm mộ lần thứ 5

GS Trần Phương

Ngày 13 tháng 8 năm 1999, tức 4 ngày trước khi tiến hành cuộc đào bới, GS Phương đã cử người em ruột là chú Quỳnh cùng anh Tân Cương về La Tiến làm một số công việc chuẩn bị. Trên đường đi, anh Tân Cương gọi điện thoại cho nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã, thông báo toàn bộ sự việc. Biết tin Bích Hằng vào cuộc, anh Nhã rất mừng. Từ Sài Gòn, anh cho một tín hiệu: “Khoảng 10h sáng, sẽ có hai con bướm màu sắc sặc sỡ bay lượn quanh mộ rồi đậu lại. Hãy đánh dấu lấy chỗ đó”.

Đến nhà ông Điển, đúng 10h, anh Tân Cương ra vườn ngồi chờ dưới gốc nhãn. Bỗng hai con bướm đen đốm hoa từ đâu bay tới lượn tung tăng. Anh Tân Cương nín thở dán mắt nhìn. Rồi một con bay đi, một con đậu lại trên cành nhãn. Anh Tân Cương vội chạy lại, chiếu thẳng từ cành nhãn xuống đất, cắm một cây que đánh dấu. Cây que cách chỗ đặt quả trứng bữa trước 2m ra phía bờ ao. Ông Điển đứng bên tường hoa theo dõi cứ tủm tỉm cười. Lúc vào nhà uống nước, ông mới kể: Sau lần đào bới thứ 4 không thấy, ông có mời thầy về cúng. Thầy chỉ mộ cô nằm đúng vào vị trí của cây que đó.

Rời nhà ông Điển, anh Tân Cương đến thẳng Uỷ ban xã để điều tra xem trong danh sách liệt sĩ, có ai là Nguyễn Thị Bê không? Tìm đi tìm lại đống sổ sách, lần hỏi từng cụ già trong làng mà chẳng ai biết cái tên như thế. Điều đó lại khiến GS Phương hoang mang. Vậy là em Khang nói sai? Cả anh Sơn nữa. Anh còn nói cụ thể chị Bê là liên lạc, cấp dưỡng của đội du kích nữ Hoàng Ngân nữa cơ mà? Chẳng nhẽ người nói chuyện với mình bữa trước không phải là em Khang, anh Sơn?

Cuối cùng, ngày 17 tháng 8 năm 1999 cũng đến. Đêm hôm trước, GS Phương không sao chợp mắt được. Lòng dạ cứ bồn chồn. Ruột nóng như có người hơ lửa. Nửa đêm, ông lụi cụi dậy thắp hương, báo cáo với anh Sơn việc tìm em Khang ngày mai. Ông vừa khấn vừa run. Đây có lẽ là lần đầu tiên trong đời, vị GS tóc hoa râm mới tự mình làm cái việc tâm linh huyền bí đó.

Em của anh đây rồi!

Thực hiện đúng lời dặn của anh Sơn, ngày 17 tháng 8 năm 1999, gia đình GS Trần Phương chuẩn bị đầy đủ lễ vật gồm: hương hoa, tiền vàng, nải quả và mấy bao thuốc lá Cáp-tăng, thẳng đường xuống La Tiến. Vừa tới nhà ông Điển, bà chị của GS đã phăm phăm bước ra vườn, bày biện lễ vật lên chiếc mâm rồi đặt lên tường hoa để nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng khấn mời. Cả nhà thành tâm chắp tay cầu nguyện. Khấn khứa một hồi, Bích Hằng cầm bó hương nghi ngút khói đi thẳng ra gốc cây vải, gần cây nhãn sát bờ ao, ngắm ngắm nghía nghía rồi cắm bó hương xuống đất. Lấy đó làm tâm, chị vạch một hình chữ nhật rồi bảo với GS Phương: “Lúc cháu đang chắp tay khấn đã thấy bác Sơn và cô Khang đứng ở gốc cây vải vẫy cháu lại rồi chỉ cho cháu chỗ cắm hương này, cả đầu và chân ngôi mộ nữa”.

Nhìn bó hương Bích Hằng cắm, GS thấy nó cách quả trứng bữa trước chừng 3m ra phía bờ ao và hình chữ nhật nằm ngoài hình tam giác đào lần trước, cạnh của nó là cạnh đáy của hình tam giác nối dài ra phía bờ ao. Trong khi tốp thợ thuê đào tay cuốc, tay xẻng chuẩn bị khai quật thì Bích Hằng khẽ khàng đặt bức ảnh cô Khang dưới gốc cây vải. Mắt nhìn vào tấm ảnh, chị chắp tay trước ngực nói bằng một giọng nhẹ như gió thoảng: “Thưa cô! Chỗ cô nằm, cháu đã vạch theo đúng như cô chỉ. Còn hài cốt thì như hiện trạng cháu nhìn thấy, còn rất ít, khi bốc lên có thể mủn ra. Vậy xin cô cho phép bốc lẫn cả đất mang về. Nếu không được đầy đủ mong cô thông cảm cho”. Cô Khang bảo: “Lần này nhìn thấy cậu Quỳnh là chị phấn khởi rồi. Cậu Quỳnh mà đi thì chắc là được (Quỳnh là em ruột cô Khang, vốn là người tin vào thần phật, lần trước không đi – PV). Còn anh Phương thì thần thánh anh ấy cũng chả sợ, có khi chỉ nhiễu quan trần, còn quan âm thì chẳng ai giúp. Anh Sơn cũng ở đây suốt từ sáng. Anh ấy trách cháu An. Nếu mà lần trước nó kiên trì, bình tĩnh thì đã đưa được em về rồi”. Bỗng Bích Hằng gọi: “Ai là Hậu? Cô Khang muốn gặp chị Hậu”. Bà Hậu, chị của GS Phương, đang ngồi uống nước trong nhà ông Điển nghe vậy vội lập cập chạy ra. Cô Khang nói tiếp: “Chị đã cất công xuống tận đây mà không ra với em, lại cứ ngồi lỳ trong đấy. Hài cốt của em không còn nguyên vẹn. Nhưng chị bốc cho em dù chỉ một nắm đất về quê mình là em cũng mừng rồi. ở đây tuy có nhiều chị em đồng đội nhưng không phải là ruột thịt, cả năm chả ai thắp cho một nén hương, em tủi lắm. Chả lẽ cứ ở đây quấy quả ông An mãi”. Bác Sơn nói chen vào: “Mọi người cứ bốc cho bằng hết. Dù ít dù nhiều cũng là máu thịt của em mình. Không bỏ vừa trong tiểu thì đắp lên mộ cho em”. Anh Tân Cương hỏi: “Cô có biết cháu không ạ?”. Cô Khang cười: “Nếu tôi không biết anh Tân Cương thì hoá ra tôi vô tình quá. Anh lặn lội vất vả với tôi quá nhiều”. Anh Tân Cương lại hỏi: “Cô có biết, ai mai táng cho cô không ạ? Nhiều người không tin là thi thể cô có thể trôi dạt vào đây. Cháu vừa nghe thấy cô nhắc đến ông An là ông An nào? ở đâu ạ?”. Cô Khang: “Nếu có cách gì làm cho cụ Đặng Đình Giám sống lại thì gia đình mình khỏi phải mất công tìm kiếm. Rất tiếc đã gặp cụ dưới âm phủ mất rồi. Lúc giết em xong, giặc ném xác em xuống sông. Mấy ngày sau xác nổi lên, gặp lúc triều cường, dạt vào một khúc quanh. Cụ Giám nhìn thấy, vớt lên, kéo qua một cái rãnh nước rồi dừng lại. Cụ bảo: Mấy vị chết ở đây, nếu đói khát, khi nào nhà ông An lên hương thì vào mà xin lộc”. Rồi cô Khang chỉ cho Bích Hằng ngôi mộ người đàn ông Hải Dương, ngay liền kề phía chân cái hố sắp đào. Bích Hằng bảo: Người đàn ông ấy đứng bên cạnh cô Khang, xưng tên mình và có nói mấy câu nhưng nói nhỏ quá, chị không nghe thấy. Phải đến lúc cô Khang nói, chị mới nghe được. Khi cô Khang chỉ ngôi mộ, chị nhìn thì thấy rõ một bộ hài cốt không đầu.

Tốp thợ bắt tay đào. Đào hết lớp đất “vượt thổ” thì Bích Hằng bảo “dừng lại”. Chị nhảy xuống hố, lấy tay gạt nhẹ từng lớp cát đen. Sâu thêm chừng một gang tay thì vướng vào thanh củi mục. Nạy lên, thả vào nước. Mọi người chợt ồ lên khi nhận ra đó là một khúc tre già, thịt tre đã phân huỷ hết nhưng xơ và đốt tre vẫn còn nguyên. Khúc tre dài hơn một gang tay, to bằng cổ tay người lớn, không thể tra vừa bất cứ một loại xẻng hay cuốc nào, chỉ có thể tra vừa thuổng (Loại thuổng hình lưỡi mai, mặt phẳng, bề ngang nhỏ hơn lưỡi xẻng, có nơi gọi là mai). Mọi người vô cùng kinh ngạc khi thấy lời dặn của bác Sơn trong buổi gọi hồn chiều ngày 9 tháng 8: “Lần này đào tiếp, chú để ý sẽ thấy một thanh củi mục. Thực ra, đấy là cái cán thuổng mà người đào huyệt đã đánh gãy vất lại đó, vô tình như đánh dấu cho mình” đã linh ứng một cách kỳ lạ. Riêng GS Phương thì vui mừng khôn xiết. Vì đây là dấu hiệu đáng tin cậy nhất để chứng minh đó chính là mộ của em gái mình. Cái cán thuổng đã bị vùi sâu dưới lòng đất ngót 50 năm rồi, không ai có thể nguỵ tạo ra nó được. Dấu hiệu đó lại do chính linh hồn anh Sơn mách bảo cách đó 9 hôm, người đời bằng con mắt trần không ai nhìn thấy mà mách bảo được.

Nhà ngoại cảm Bích Hằng

Sau khi tìm thấy cán thuổng, Bích Hằng chỉ gạt vài lớp đất mỏng nữa thì bắt gặp hài cốt của cô Khang. Trùm lên sọ là một mảng tóc đen nhánh. Những đốt xương cổ hiện lồ lộ trên nền cát đen. Nhưng khi bàn tay Bích Hằng vừa chạm đến, mớ tóc vủn ra luôn còn những đốt xương thì gãy ra như chiếc bánh quy thấm nước. Qua hình dáng hài cốt, có thể mường tượng ra, khi chôn, người ta đã đặt cô Khang nằm nghiêng, người hơi cong, mặt hướng ra vụng Quạ, đầu hướng về Tây Bắc, chân về hướng Đông Nam. Bích Hằng khẽ khàng bốc tất cả số bùn đất theo hình nằm cong ấy cho vào tấm vải đỏ. Chị hỏi cô Khang: “Thưa cô! Răng cô ở đâu để cháu mang đi đãi ạ?”. Bốc vài nắm đất tìm bới, cuối cùng tìm được 5 chiếc. GS Phương cho lên lòng bàn tay nhìn kỹ thì thấy đúng là những chiếc răng trắng nhưng do ngâm quá lâu trong bùn đất nên đã ngả sang màu xám và đen xỉn. Thấy vậy, mấy người đứng trên bờ nhắc Bích Hằng tìm móng tay. Chị bèn hỏi cô Khang: “Thế còn móng tay cô ở chỗ nào, cô chỉ cho cháu?”. Bỗng thấy Bích Hằng khóc nấc lên. Một lát sau, chỉ nghẹn ngào kể lại với GS Phương: “Cô Khang giơ hai bàn tay toè toẹt máu ra trước mặt cháu, bảo: Chúng nó rót hết móng tay của cô rồi, còn đâu nữa mà tìm hả cháu”. GS Phương chết lặng. Một nỗi niềm chua xót, buốt lòng dâng lên khiến ông đứng lặng, không nói nên lời. Ông chợt nhớ lại. Ngày ấy, sau khi em Khang bị giặc giết, huyện uỷ Phù Cừ có gửi riêng cho ông bản báo cáo, kể rõ em Khang bị địch bắt, tra tấn dã man và bị giết đau đớn như thế nào. (Vì ngày ấy, ông là Phó bí thư tỉnh uỷ Hưng Yên, có nhiều gắn bó với huyện Phù Cừ). Chúng dùng kìm, rút từng chiếc móng tay của em Khang rồi cắm kim vào đó cho mưng mủ, lấy giày đinh giẫm lên mặc cho em Khang giãy giụa, quằn quại. Dã man hơn, chúng còn dí điện vào hai đầu vú, thọc gậy vào âm hộ, treo ngược lên cành cây như bị cát rồi thoả sức đấm, đá… Những chuyện buốt lòng ấy, GS Phương đã chôn kín trong lòng, không hé lộ cho bất kỳ ai trong gia đình. Ông sợ mọi người không chịu đựng được nỗi đau ấy. Nay, thấy Bích Hằng nói vậy, ông vô cùng xúc động. Và càng tin chắc chắn rằng, bộ hài cốt kia đích thị là người em gái xinh đẹp và kiên trung của mình.

Bích Hằng vẫn lúi húi dưới hố tìm kiếm và chỉ đạo mấy người giúp việc. Chị tìm mãi chiếc còng sắt vẫn không thấy. Hỏi cô Khang, cô cũng không chỉ được. GS Phương bảo: “Có thể nó đã bị rỉ thành đất qua 50 năm ngâm trong bùn”. Thỉnh thoảng, Bích Hằng lại nhô đầu lên nói chuyện với gia đình GS Trần Phương. Bỗng chị bảo: “Có một cụ cứ ngồi nhìn rồi tủm tỉm cười. Không biết có phải cụ Giám không?”. Rồi chị cất giọng lễ phép hỏi: “Cháu chào cụ ạ! Cụ cho phép cháu được biết quý danh của cụ?”. Lắng nghe hồi lâu, Bích Hằng nói như reo lên: “Cụ An”. Nói đoạn, Bích Hằng tự giới thiệu mình cùng gia đình đi tìm hài cốt cô Khang và đề nghị cụ giúp đỡ. Cụ An bảo (qua Bích Hằng): “Tôi là hàng xóm, nhà tôi ở vệ đê. Lần nào các bác về đây tìm mà tôi chả biết. Tôi còn nhớ như in, đêm hôm ấy, vào lúc gà gáy canh hai, ông Giám qua nhà tôi hỏi mượn cái mai. Tôi hỏi để làm gì? Ông ấy giơ ngón tay lên miệng: “suỵt! Để chôn người chết trôi”. Tôi nhìn kỹ thì thấy một cái xác cụt đầu, biết ngay là cán bộ cách mạng. ở chỗ kia trước là cái rãnh nước. Ông Giám kéo mấy cái xác qua đó, đến đây là chân ruộng mạ. Ông Điển mới ở đây thôi chứ ngày xưa là ruộng mạ, thuộc chủ khác”. Bích Hằng bèn đưa ảnh cô Khang, hỏi: “Cụ có nhận ra ai đây không ạ?”. Cụ An bảo: “Bà này là thân nhân của một ông cán bộ tỉnh uỷ ở đây. Nhưng chôn cất như thế nào thì cả tôi, cả ông Yên, ông Trọng đều không biết gì đâu. Chỉ có mình ông Giám là biết thôi. Để tôi đi tìm ông Giám cho”.

Chờ một lúc lâu, Bích Hằng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ đi cùng cụ An về. Cụ An cười bảo: “Tất cả những chuyện cô cần biết, chỉ có mình ông Giám này là giúp được thôi”. Bích Hằng nhỏ nhẻ giới thiệu và nêu ra đề nghị với cụ Giám: nhận diện người chết qua tấm ảnh và chỉ dùm cái còng sắt nằm ở chỗ nào? Cụ Giám nói: “Đêm ấy trời tối đen như mực nên tôi chỉ nhìn thấy loáng thoáng thôi. Xác ngâm dưới nước lâu ngày đã trương lên rồi, mặt mũi nhìn không rõ. Tóc thì không vấn như trong ảnh thế này đâu mà cắt ngang gáy như cô bây giờ. Nhưng xoã xượi dưới nước. Lần ấy, tôi đem về không phải một người mà những 3 người cơ. Tôi kéo người phụ nữ lên trước nhưng cứ thấy vương vướng. Nhìn kỹ hoá ra tay trái của cô ấy bị xích vào tay người đàn ông. Khi chôn, chẳng nhẽ lại chôn hai người một hố nên tôi phải tuột tay một người đàn ông ra khỏi cái vòng. Tôi chôn người phụ nữ ở đây còn người đàn ông ở chỗ kia. Sức tôi cũng chỉ kéo được có thế. Khi chôn, vì xác bị trói đã cứng lại, không nắn thẳng ra được nên tôi đành đặt nằm nghiêng, mặt hướng ra sông cho mát mẻ. Còn người phụ nữ nữa, tôi chôn ở góc kia, chỗ gốc cây nhãn ấy. Nhưng bây giờ thì đã tụt xuống ao mất rồi. Hình như lúc chết, bà ấy đang mang thai hay sao ấy”. Anh Tân Cương hỏi: “Một số người thắc mắc, không hiểu được tại sao xác chết trôi sông lại có thể dạt vào đây được?”. Cụ Giám gắt: “Cái con mẹ Tiến nó cứ mồm năm miệng mười chứ làm sao mà nó biết bằng tôi được. ở ngoài kia nước cả, không đem vào đây thì vùi ở đâu”. Ngừng một lát, cụ nói tiếp: “Điều này thì tôi chỉ nghe phong thanh thôi. Tụi lính dõng ở đồn nó bảo người phụ nữ bị giết đêm hôm ấy (cô Khang – PV) là bà bé của tay xếp bốt”. Cụ An cãi lại: “Ông thì chỉ được cái ăn no vác nặng, có biết gì đâu. Có lần ông chôn một anh bộ đội, ông lại bảo là thằng lính dõng. Tôi thì không được kéo xác như ông nhưng việc này thì tôi biết rõ. Có một người nữ du kích bị bắt (cô Khang – PV), thằng xếp Bách dụ làm vợ bé không được, nó đã giết đi. ở bốt này có một thằng quan Tư là quan thày người Pháp còn thằng Bách tuy là tay sai nhưng cũng được gọi là xếp. Thằng Bách lấy vợ người La Tiến làng mình, ai mà chẳng biết rõ về nó”.

Trời đã xế chiều. Mọi người hối hả thu dọn. Bác Sơn bảo (qua Bích Hằng): “Còn cái chân của cô, moi sâu vào mà bốc. Được bà chị xuống với em, chẳng giúp được việc gì, chỉ ngồi khóc”. Anh Tân Cương tưởng bác Sơn nói đến cô Nam (chị gái của cô Khang) đa cảm, hay xúc động liền nói chêm vào: “Sáng nay, bà ấy cứ nhất định đòi đi”. Bích Hằng thấy vậy, liền cải chính: “Không phải thế đâu. Bác Sơn nói đến bà chị là bác Nghĩa (đã mất) cơ. Từ nãy, bác ấy cứ ngồi khóc một chỗ. Bác ấy bảo: Nhà có 6 chị em gái, ai nấy đều có phận. Riêng em tôi giỏi giang xinh xắn nhất nhà thì lại chịu cảnh thế này. Không tìm được xác em, lúc tôi chết cũng không nhắm được mắt. Bây giờ tìm được em thì mình đã thành người thiên cổ rồi”. GS Phương nghe thấy bác Nghĩa nhắc đến 6 chị em, vội giơ đốt ngón tay đếm. 6 hay 5 nhỉ? Đúng là 6 thật! Bác Sơn như hiểu ý của anh Tân Cương, nói: “Uí giời! Cho cái cô Nam nhà tôi xuống đây thì chỉ được cái bù lu bù loa chứ giúp được gì. Tính cái con ấy nó vậy”. Cô Khang nói: “Buồn cười quá! Sau lần gặp cô em, về đến nhà, ông anh Phương vội vàng bốc cát lập ngay… 7 bát hương. Mỗi người một bát. Đúng là một cuộc cách mạng. Em Khang cảm động ghi nhận tấm lòng của anh Phương, chị Thuỷ”. (Bà Thuỷ là vợ của GS Phương – PV). GS Phương giật mình. Quái lạ! Việc ông lập đến 7 bát hương, thờ phụng ở nhà, (một bát thờ tổ tiên, một bát thờ cụ nội, một bát thờ ông bà nội, một bát thờ bố mẹ, một bát thờ anh Sơn, một bát thờ cô Khang, một bát thờ người con giai chết trẻ – thế cô Khang mới buồn cười) chỉ có mình ông và vợ biết, có nói với ai đâu. Tại sao Bích Hằng lại nói đúng thế nhỉ?

Cụ An bảo: “Cô Khanh là liệt sĩ, sao không làm lễ truy điệu rồi hãy mang về quê?”. Bác Sơn vội giải thích: “Hôm nay cập rập quá, gia đình chuẩn bị không kịp. Hôm tới đưa về nghĩa trang liệt sĩ của huyện sẽ làm lễ truy điệu sau”. Cô Khang bảo: “Cậu Quỳnh còn giữ những giấy tờ, bằng khen của chị không?”. Chú Quỳnh đáp: “Bằng khen và Huân chương của chị, em vẫn giữ”. Cô Khang: “Hôm này làm lễ truy điệu chị ở nghĩa trang liệt sĩ, cậu nhớ mang theo nhé”. Chao ôi! Người con gái đã hy sinh ngót 50 năm mà vẫn quan tâm đến những vinh dự của mình nơi trần thế – GS Phương ngậm ngùi nghĩ mà lòng thì rưng rưng xúc động.

Nói đoạn, cô Khang quay lại nhìn cụ Giám, cười bảo: “Cụ Giám ạ! Vừa rồi cụ nói oan cho tôi quá. Tôi đã được làm vợ bé ngày nào đâu”. Bích Hằng thông dịch đến đây, mọi người trên bờ cười ồ cả lên. “Nhưng cụ nói đúng đấy. Ngày xưa ai cũng gọi tôi là cô Khang tóc dài. Nhưng khi bị bắt, giặc đã cắt cụt hết. Trong việc chôn cất các liệt sĩ ở đây, cụ là người có công lớn nhất. Chúng tôi vô cùng biết ơn cụ. Nay tôi về Mỹ Hào quê tôi, về với anh Sơn. Nằm lại đây còn một bộ hài cốt, gia đình người ta cũng sẽ đến bốc về. Chỉ còn chị Bê, hài cốt không còn gì. Nhờ bác Điển hương khói cho vong hồn chị. Chị ấy sẽ phù hộ cho bác. Hồi đi hoạt động cách mạng, chị lấy tên là Nguyễn Thị Bê nhưng tên thật của chị là Nguyễn Thị út. (Mấy người trong làng đứng xem chợt ồ lên: Ôi! Bà út. Thế mà con cháu cứ tìm kiếm mãi). Nhờ bác Điển đem mâm lễ phát lộc cho các cháu”.

Mặt trời khuất hẳn sau luỹ tre ven sông thì công việc thu vét hài cốt cũng xong. Mọi người vây quanh gốc cây vải, nơi đặt bàn thờ tạm. Bích Hằng bảo: “Suốt ngày cô Khang và bác Sơn quanh quẩn ở đó. Buổi chiều, bác Nghĩa cũng ngồi ở đó ôm lấy tấm ảnh cô Khang mà khóc. Cụ An và cụ Giám thì ngồi ở phía tường hoa”. Trời nhọ mặt người, gia đình GS Trần Phương mới đưa hài cốt của cô Khang về nhà. Hai ngày sau, lễ truy điệu người nữ du kích anh hùng Trần Thị Khang đã diễn ra trọng thể tại nghĩa trang liệt sĩ của Huyện với sự có mặt của hơn 300 người gồm các Ban, ngành, chính quyền, đoàn thể cùng đông đủ họ hàng nội ngoại. Người xúc động nhất buổi hôm ấy, có lẽ là GS Trần Phương. Sau 24 ngày mò tìm trong bí ẩn, nhiều lúc tưởng chừng như tuyệt vọng, cuối cùng, hài cốt của người em gái thân yêu đã tìm thấy. Đó là một kết thúc có hậu. Đó cũng là hành trình đưa GS đến với thế giới tâm linh đầy huyền hoặc với những khám phá bất ngờ, thú vị và cả những day dứt, trăn trở…

GS Trần Phương, nguyên Phó thủ tướng chính phủ, hiệu trưởng trường Đại học kinh doanh và công nghệ Hà Nội: “Hài cốt em tôi đã tìm thấy nhưng cách thức tìm của các nhà ngoại cảm, với tôi, vẫn còn là bí ẩn. Khám phá ra bí ẩn này, như tôi biết, không phải là điều dễ dàng gì. ở đây, tôi chỉ xin đề xuất một số vấn đề để các nhà nghiên cứu xem xét:

1. Tôi có căn cứ để tin rằng: Tôi đã gặp linh hồn em Khang, anh Sơn, thậm chí, cả linh hồn cụ Giám, cụ An, Bích Hằng đã nhận dạng được linh hồn qua tấm ảnh, đã nghe được tiếng nói của linh hồn. Như vậy, linh hồn phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó thì mới có hình thù và khả năng phát ra tiếng nói như vậy. Đã là một dạng vật chất thì vật lý học, hoá học, sinh học, y học… với những phương tiện quang học và điện tử tinh vi, hẳn sẽ có ngày tìm ra. Vậy các nhà khoa học Việt Nam có thể đóng góp gì theo hướng đó?

2. Tôi nhận thấy linh hồn người chết vẫn thể hiện những tình cảm vui buồn, ước muốn, vẫn kể lại rành rọt, chính xác những việc đã qua, kể cả những sự việc sau khi mình đã chết, vẫn theo dõi những việc mà người sống đang làm. Như vậy, linh hồn đâu phải là vật thể vô tri vô giác mà là những vật thể sống, có tư duy và tình cảm. Điều này, đặt ra một loạt câu hỏi: “Có một thế giới linh hồn ngoài thế giới của chúng ta đang sống không? Nó hoạt động như thế nào, tác động gì đến thế giới của chúng ta? Linh hồn có mất đi hay tồn tại mãi?Người sống dâng cúng đồ lễ, tiền vàng là đúng hay nhảm nhí? Tìm lời giải cho những vấn đề này, nếu chỉ dựa vào suy luận thì sẽ dẫn đến những cuộc tranh cãi bất tận. Vấn đề mấu chốt là phải chứng minh.

3. Hầu hết mọi người đều không nhìn thấy linh hồn, nghe thấy tiếng nói của linh hồn. Ngoại trừ một số hiếm hoi là các nhà ngoại cảm. Vậy khả năng đặc biệt ấy là do cấu tạo sinh lý?

4. Để nghiên cứu lĩnh vực này, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đã lập ra Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người (Bộ môn cận tâm lý). Song quyền hạn, phương tiện nghiên cứu, tài chính hoạt động còn hạn hẹp. Nên chăng, thành lập một viện nghiên cứu có sự hỗ trợ về kinh phí của nhà nước, có sự quyên góp tự nguyện của những người quan tâm? Nếu nghiên cứu thành công không những có ý nghĩa nhân văn mà còn giúp ích nhiều mặt, kể cả về mặt điều tra hình sự (nếu vong hồn người bị giết nói ra thì kẻ giết người tránh sao khỏi tội?).

5. Trong khi chờ đợi kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, cần có những chính sách, chế độ ưu đãi cho các nhà ngoại cảm để họ có thể phát huy cao hơn nữa khả năng đặc biệt vào việc tìm kiếm hài cốt các liệt sĩ, thoả lòng mong ước của hàng chục vạn gia đình. Tránh những lời bổ báng vội vã, tránh vơ đũa cả nắm giữa các nhà ngoại cảm có khả năng thực sự với những kẻ buôn thần bán thánh, lợi dụng mê tín dị đoạn để loè bịp, trục lợi.

* Trong bài viết này, chúng tôi có sử dụng một số tư liệu của gia đình GS Trần Phương

KỲ 14: HÀNH TRÌNH TÌM MỘ CHỊ GÁI CỦA GIA ĐÌNH TƯỚNG TRẦN ĐỘ

Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Kỳ 12: Ngày thứ 3 tìm mộ: Soát đống cát đen, thu dọn “chiến trường”

Giáo sư Trần Phương và Bích Hằng

Suốt hai ngày trời, dậy từ 4h sáng, mướt mải tìm kiếm, đào bới đến 11h đêm mới về nhà, cái tuổi 72 của GS đã cảm thấy đuối sức. Niềm tin cũng giảm sút. Sáng ngày thứ 3, GS uỷ nhiệm cho các con, cháu, người chị ruột và anh Tân Cương đi tiếp. Ông dặn: Không đào sâu thêm nữa, chỉ soát lại đống cát đen đào xới lên hôm qua, hoạ may nhặt được mẩu xương nào thì đem về. Nếu không thì “thu dọn chiến trường”.

Mọi người thực hiện đúng lời dặn, hì hụi bới tìm gần hết buổi sáng chẳng thấy gì. Nhiều cụ già trong làng đến xem, xúm lại bài bác: “Đã bảo mà! Tìm ở ngoài đê, quanh cái vụng Quạ thì không, lại cứ cắm đầu tìm ở trong đê. Làm gì có xác nào trôi sông mà lại vượt qua được con đê để tận vào trong đồng”. Đúng lúc ấy, anh Thìn, hiệu trưởng trường trung học cơ sở La Tiến đến xem kể: Hồi trước, bố anh làm nghề đơm đó, đánh dậm, có vớt được 3 cái xác: 2 nam, 1 nữ trôi dạt vào vụng Quạ. Ông đã kéo qua đê rồi chôn ở cánh đồng này. Bố anh rất nghèo nhưng bạo gan. Trong làng, nhà ai có việc đào huyệt hay bốc mộ, đều đến nhờ cụ. Cả những cháu bé bị chết đuối, xác trương lên, cụ cũng sẵn sàng vác lên vai đi chôn giúp. Hồi kháng chiến chống Pháp, có nhiều xác chết nổi lên ở vụng Quạ, làng giao hết cho cụ vớt lên chôn cất. Sau này, cụ còn được chính phủ tặng bằng khen vì những thành tích trong kháng chiến chống Pháp. Chỉ tiếc, cụ đã mất 18 năm rồi.

Lại loé lên những tia hy vọng. GS Phương vội điện cho anh Nhã. Từ Sài Gòn, anh bảo: “Biết gia đình tìm được đầy đủ các tín hiệu, tôi mừng lắm tuy cự ly có phần không đúng. Có điều, bây giờ phải lật cái bản đồ mà xem từ âm bản”. GS Phương ngạc nhiên hỏi: “Như vậy có nghĩa là phần mộ cô Khang sẽ nằm ở bên kia sông, tức là trên đất Thái Bình à?”. Anh Nhã gật đầu: “Đúng thế”. Rồi anh dặn: Phải tìm đến một cái vụng xoáy dọc bờ sông. ở đó có một xóm dân cư mới, ra lập nghiệp được khoảng 20 năm. Trong đó có cô Nhường, ông An. Mộ cô Khang nằm trên đất cô Nhường. Trên mộ vẫn đầy đủ những dấu hiệu như đã chỉ”.

Ngày thứ tư tìm mộ: Vô vọng , nghi ngờ “cái trận đồ bát quái”

Hầu hết các thành viên trong gia đình GS Phương, vốn đã không tin vào chuyện tâm linh thần bí, nay thấy sự việc đi vào bế tắc, đều không muốn đi nữa. Bản thân GS thì mệt mỏi rã rời. Chỉ có anh Tân Cương là vẫn vững lòng tin vì chính anh đã nhờ các nhà ngoại cảm mà tìm được mồ mả gia tiên. Ngày hôm sau, anh cùng anh Đạt vượt bến đò La Tiến sang đất Thái Bình. Anh cứ dọc bờ sông Luộc mà đi, những mong tìm được cái vụng xoáy. Đi mãi. Đi cho tới khi xế chiều, anh bắt gặp một cụ già râu tóc bạc phơ. Cụ bảo: “Phía Thái Bình không có cái vụng xoáy nào đâu. Vì con sông đến đoạn này thì quật sang đất Hưng Yên”. Nói rồi cụ chỉ sang vụng bà Khán Mỹ bên kia sông. (Gọi thế vì bà Khán Mỹ đã nhiều năm sinh sống trên vụng đó bằng thuyền đánh cá). Vậy là lại phải qua sông để trở về đất Hưng Yên. Cạnh vụng bà Khán Mỹ, trên đất bãi, có một xóm mới. ở đó, có một chị tên Nhường và một anh tên An. Có mấy ngôi mộ vô thừa nhận. Nhưng tìm kiếm mãi vẫn chẳng thấy tín hiệu nào trùng khớp với bản đồ của anh Nhã.

Không nản, anh Tân Cương đi tiếp một ngày nữa. Từ vụng bà Khán Mỹ, anh đi ngược lên vụng Quạ. Nơi nào có mộ vô thừa nhận là anh đến. Nhưng càng đi tìm lại càng tuyệt vọng. Cuộc tìm kiếm theo đủ mọi hướng đến đây coi như lâm vào ngõ cụt. Cái tính hoài nghi khoa học vốn có trong con người GS Phương giờ “nổi loạn”. Ông nghĩ: Lão Nhã này, hắn đày ải, đánh đố mình đây. Hắn bày ra cả một “trận đồ bát quái”, nào là dấu hiệu, tín hiệu, tên người, tên đất… rồi bảo mình phải đi tìm cho đủ. Lục tìm cả cái đất nước này, chưa chắc đã có nơi nào khớp được. Nghĩ thế nhưng ông lại tự trách mình là vô lý. Đã chấp nhận đi theo thầy Nhã mà tỷ lệ trúng mộ chỉ đạt 60% thì hà cớ gì, trường hợp của mình lại không rơi vào 40% kia? Đã xác định tìm đến con đường thần bí như nguồn hy vọng mỏng manh cuối cùng thì lý gì lại đòi hỏi phải lý giải ngọn nguồn cái trận đồ bát quái ấy?

Theo đuổi đến tận cùng hai nhà ngoại cảm nổi tiếng đã vẽ trúng hàng ngàn ngôi mộ liệt sĩ nhưng đến lượt mình thì không có “duyên”, GS Phương bèn bàn với anh Tân Cương chỉ còn cách là tìm đến những người có khả năng gọi hồn. Chị Tuyết Nga cũng ủng hộ cách làm ấy. Chị đưa cho GS địa chỉ, điện thoại của một nhà ngoại cảm nổi tiếng khác. Điều tra ra thì đó chính là điện thoại của Phan Thị Bích Hằng. Chị nhận lời giúp GS vào chiều ngày 9 tháng 8 năm 1999 tại nhà riêng của ông. Cuộc gọi hồn kéo dài gần hai tiếng đồng hồ với nhiều chi tiết vừa xác thực, vừa ly kỳ, xúc động cùng rất nhiều nước mắt đã hé ra một cách tìm mới về mộ cô Khang và điều đặc biệt nhất là xé toang nỗi nghi ngờ như làn sương bao phủ trong đầu vị GS “vô thần” Trần Phương.

Trò chuyện với… linh hồn

Cuộc trò chuyện với linh hồn cô Khang trong buổi chiều ngày 9 tháng 8 năm 1999 ấy, cho đến tận bây giờ, vẫn là nỗi ám ảnh lớn trong tâm trí của GS Phương. Bởi đó không chỉ là cuộc hội ngộ đầy nước mắt giữa những người thân sau mấy mươi năm sinh ly tử biệt mà đó thực sự là bước ngoặt lớn trong nhận thức của GS về thế giới tâm linh, thế giới của những linh hồn. GS vẫn còn nhớ rất rõ, trong lúc nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng đang lúi cúi sắp đặt một cốc nước, một cốc gạo, nến, tiền vàng và bức ảnh của cô Khang lên bàn thì GS cố lục tìm trong trí nhớ những vụ việc rất bí mật mà chỉ GS và cô Khang biết để kiểm tra xem có đúng là linh hồn người em gái đang trò chuyện với ông không? Và điều quan trọng hơn, có thật là linh hồn còn tồn tại sau khi con người đã chết? Cảnh giác, GS còn dặn cả nhà tham dự buổi gọi hồn phải tỉnh táo, không được nói hớ, để lộ thông tin cho “thầy bói nói dựa”.

Thắp hương và đốt nến xong, Bích Hằng thành kính chắp tay trước ngực, khấn mời cô Khang bằng một giọng nhỏ nhẹ rồi quay sang nói với GS Phương: “ở căn phòng này bác không thờ cúng bao giờ, có thể vong linh cô Khang sẽ khó về”. Nghe vậy, GS đâm hoang mang quá. Đúng là ở căn nhà này, GS chưa thờ cúng ai bao giờ, thậm chí, 10 năm nay, ông không ở đây vì đã bàn giao cho con. GS đảo mắt nhìn quanh, thấy bốn bề cửa kính đóng kín mít, máy điều hoà chạy mát lạnh. Mùi hương không lọt ra ngoài thì cô Khang làm sao nhận biết được? Cả tiếng khấn nhẹ như gió thoảng của Bích Hằng nữa? Cô có nghe thấy không? Mà có nghe thấy thì làm sao tìm được địa chỉ này giữa lòng thành phố ồn ào chin chít nhà cửa? Và lách qua kẽ hở nào mà vào?

GS bỗng thấy ngột ngạt, căng thẳng quá. Bên cạnh, Bích Hằng vẫn chăm chắm nhìn tấm ảnh cô Khang. Một phút chờ đợi chậm chạp trôi. Hai phút… Rồi 3 phút. Chợt Bích Hằng reo khẽ: “Cháu chào cô ạ! Cháu là Phan Thị Bích Hằng. Bác Trần Phương có nhờ cháu mời cô về để hỏi xem hài cốt cô hiện ở đâu ạ?”. Nói đoạn, Bích Hằng vội quay sang G.S Phương, hạ giọng nói: “Cháu nhìn thấy một thanh niên đi cùng với cô Khang”. Tim GS Phương đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Ông cố đoán xem người đàn ông ấy là ai trong khi Bích Hằng vẫn chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng lại “Vâng! à thế ạ. Cô Ngân hay là cái gì ngân ạ?…” Một lúc sau, Bích Hằng quay sang GS Phương, nói: “Cô Khang bảo: Người thanh niên đi cùng em chính là anh Sơn đấy. Anh ấy vẫn thường xuyên đến thăm em”. G.S Phương giật mình. Ôi! Anh Sơn. Người anh ruột hơn G.S Phương 4 tuổi nhưng cũng là người bạn, người đồng chí thân thiết. Anh từng là uỷ viên thường vụ tỉnh Hưng Yên, Sơn Tây, Hà Đông (cũ). Rồi khi thành lập Đại đoàn 320, anh được điều làm Trưởng ban tuyên giáo của đại đoàn. Anh hy sinh trong chiến dịch Hà Nam Ninh tháng 6 năm 1951. G.S Phương muốn reo lên, gọi thật to tên anh. Nhưng sực nhớ Bích Hằng ngồi cạnh, ông cố kìm cảm xúc lại, chờ xem.

Bích Hằng nói tiếp: “Anh không có duyên rồi. Đi tìm em, đối mặt với em rồi mà không đến được với em. Từ hôm anh đến, mấy chị em trong đội du kích Hoàng Ngân cứ bảo: sao lâu quá không thấy anh Phương trở lại. Chỗ em nằm chỉ cách chỗ anh đào 3 sải chân ra phía bờ ao thôi”. G.S Phương vội ngắt lời: “Vậy em nằm trên vườn hay dưới ao?”. Cô Khang bảo (qua Bích Hằng, từ đây gọi là cô Khang – PV): “Đến bờ ao cũng còn 3 bước chân nữa. Phía trên em chừng 2 m là chị Nguyễn Thị Bê, đội viên đội du kích Hoàng Ngân, quê ở ngay làng La Tiến. Cũng cách chừng 2m về phía Đông là một người đàn ông, bị bắt từ Hải Dương về, em không biết tên. Hai người bị giết cùng một ngày với em. Chúng cột tay chúng em lại rồi vất xác xuống sông vào nửa đêm. Dân phòng ta có đi tìm nhưng không thấy. Mãi mấy ngày sau, xác mới nổi lên. Dân vớt được, đưa về đây chôn nên 3 mộ gần sát nhau, gần như nằm trên một đường thẳng. Xa hơn, còn mấy người nữa. Chỗ này cả thảy 7 người cơ”. G.S Phương hỏi: “Chôn em có quan tài không?”. Cô Khang cười buồn: “Mấy người nổi lên trước thì dân còn cho được manh chiếu mà bó. Còn nổi lên sau thì đến manh chiếu cũng không có, nói gì đến quan tài”.

Qua Bích Hằng, cô Khang chỉ dẫn tỉ mỉ chỗ cô nằm với các đặc điểm về cây cỏ xung quanh. G.S Phương nhận ra ngay vì đó là cây nhãn giáp với nhà bà Nhờ, bữa trước ông đã ngồi ở đó để theo dõi việc đào mộ. G.S Phương hỏi: “Em có biết chỗ em nằm thuộc về đất của ai không?”. Cô Khang đáp: “Em cũng không biết nữa. Địch đánh em gãy xương sườn, gãy xương cánh tay và xương đòn tay bên phải, gãy hai chiếc răng nanh ở hàm trên bên phải, dập gò má bên trái. Xương cốt hiện nay vẫn còn nhưng đã mủn vì chôn có quan tài đâu nên khi đào, anh phải cẩn thận, chỉ cần xúc một xẻng đất là nó vỡ ra ngay. Anh chú ý ở tay em vẫn còn cái còng bằng sắt. Địch khoá tay em vào tay người đàn ông bị bắt ở Hải Dương bằng cái còng ấy. Răng hàm dưới đã rụng ra nhưng rất may, hàm trên vẫn còn nguyên vẹn. ở đấy có mấy anh chị, nếu anh có đào nhầm sang mộ người khác thì vẫn có thể nhận ra ngay. Ngày xưa, mọi người hay trêu đùa em là có hàm răng đẹp nhất, trắng nhất, tươi tắn nhất đội du kích. Nhưng bây giờ răng em đã chuyển sang màu đen rồi, đen xỉn ấy do bùn đất lâu năm ngấm vào chứ không phải đen hạt na đâu”. Một niềm xót thương chợt trào dâng khiến nước mắt G.S Phương lưng tròng. Mặc dù chỉ nói một cách kín đáo nhưng ông nhận ra ngay vẻ đẹp mặn mòi rất đặc trưng của em Khang. Ôi! Người con gái đã lìa đời hơn 50 năm mà vẫn thầm tự hào về nhan sắc, về hàm răng trắng như ngà khiến biết bao chàng trai ngưỡng mộ.

Cố kìm nén niềm xúc động, G.S Phương hỏi: “Nếu tìm được hài cốt em thì đưa về quê mình, cạnh mộ bố mẹ hay đưa em về nghĩa trang liệt sĩ của huyện, nơi anh Sơn đang nằm?”. Cô Khang đáp: “Mẹ bảo em: Con là phận gái chết trẻ, không chồng con gì. Về với bố mẹ để sau này cháu chắt còn thăm viếng, hương khói cho con. Nhưng anh Sơn thì bảo: Em là đội trưởng đội nữ du kích Hoàng Ngân. Em cứ về nghĩa trang liệt sĩ cho có anh có em. Tổ quốc ghi công mình cơ mà. Anh Sơn hôm nay cũng về cùng với em đấy”. Suốt nửa tiếng đồng hồ cố nén niềm xúc động, giờ, không kìm được nữa, G.S Phương khóc oà: “Trời ơi! Anh Sơn”. Ông lẳng lặng rút từ trong túi ra một bức ảnh, đưa cho Bích Hằng. Nhìn qua, Bích Hằng bảo: “Đúng đây là ảnh bác Sơn rồi. Nhưng trông bác già và gầy hơn trong ảnh”. G.S Phương gật đầu xác nhận. Bức ảnh chụp từ năm 1948, khi anh Sơn đang công tác ở Sơn Tây nên trông rất điển trai.

Anh Sơn trách G.S Phương: “Chú đi tìm em Khang mà chẳng nói với anh một câu. Lần sau, chú báo trước cho anh, anh sẽ dẫn đường cho chú đến tận nơi. Ai khoanh cho chú chỗ ấy là họ hiểu biết đấy. Cũng may mà khúc sông ấy hơi cong lại, xác em mình mới dạt vào. Nếu không đã trôi tuột mất rồi. Mẹ khóc thương em Khang nhiều lắm. Cứ muốn đưa em về bên mẹ để mẹ ôm ấp. Nhưng anh lại khuyên em Khang về nghĩa trang liệt sĩ vì đấy là vinh dự của em mình, của cả gia đình mình cơ mà. Tổ quốc ghi công mình, đời đời nhân dân thắp hương cho mình chứ đâu chỉ có con cháu trong gia đình. Vả lại, đời anh chị em mình đã vậy chứ đến đời thằng An thì nó còn biết gì.”. G.S Phương lại giật mình. An là con đẻ của ông. 10 năm sau khi anh Sơn hy sinh, An mới ra đời.

“Hôm chú đi tìm mộ em Khang, anh cũng có theo dõi. Chú đào xuyên đến cả lớp đất nguyên thuỷ. Em Khang đâu có nằm sâu thế. Chỉ hơn 1m là đến lớp cát đen rồi. Em mình chỉ nằm ở tầm ấy thôi. Lần này đào tiếp, chú để ý sẽ thấy một thanh củi mục. Thực ra, đấy là cái cán thuổng mà người đào huyệt đã đánh gãy vất lại đó, vô tình như đánh dấu cho mình”. G.S Phương hỏi: “Anh bảo sẽ dẫn đường cho em. Vậy làm cách nào mà em nhận biết được?”. Anh Sơn: “Anh không thể nắm tay chú mà dẫn đi như người trần được. Nhưng anh sẽ sai khiến một con vật nào đó như con ong, con bướm chẳng hạn, dẫn đường cho chú. Làm việc này đối với người âm là khó đấy nhưng anh sẽ cố. Khi thấy con vật, chú gọi nó lại rồi đi theo nó, đến chỗ nó đậu. Hôm nào đi, chú mua ít hoa quả thắp hương mời chị em. Người ta chết cùng nhau, mình chỉ hì hục đào tìm em mình thì người ta cũng tủi. Phía trên mộ em Khang là mộ một chị liên lạc, cấp dưỡng cho đội du kích, người địa phương, nên báo cho gia đình chị ấy biết mà đến tìm. Chú kiếm cho anh mấy bao Cáp-tăng để anh mời anh em. Bây giờ anh cũng chỉ huy cỡ trung đoàn đấy”.

G.S Phương hỏi đôi điều về “đời sống” của anh Sơn và cô Khang. Cô Khang bảo: “Có lần, em về thăm chị Nghĩa mà không vào được, chỉ đứng ngoài nhìn vào”. (Chị Nghĩa là chị cả của gia đình GS Trần Phương – PV). Anh Sơn vội giải thích: “Em Khang bị chết trôi sông. Đã có ai bắc cầu đâu mà hễ nhớ chị nhớ em thì chỗ nào cũng vào được. Bây giờ, cuộc trò chuyện ở đây tạm kết thúc. Cô Khang đi với anh đến nhà Quỳnh chơi”. (Quỳnh là em út của GS Phương – PV). Nói rồi biến mất. Cuộn băng ghi âm 90 phút cũng vừa vặn hết.

Sau này, GS Phương đã nghe đi nghe lại cuộn băng ghi âm nhiều lần. Qua những tên người trong gia đình được nhắc đến một cách ngẫu nhiên, qua cách xưng hô, sự hiểu biết tính cách từng người còn sống, cách xử sự và tâm tư tình cảm của người nói, GS Phương tin chắc rằng: đó là vong linh của anh Sơn và em Khang. Người khác, dù biết rõ gia đình GS đến mấy, cũng không thể sáng tác ra một kịch bản như thế, huống hồ Bích Hằng là người mà hoàn toàn xa lạ, lần đầu tiên được gặp GS. Song điều khiến GS băn khoăn là: “Nếu đúng là khi người ta chết đi, vẫn còn lại một cái gì đó mà người đời thường gọi là linh hồn thì linh hồn là gì? Nó phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó thì Bích Hằng mới có thể nhìn thấy và nhận diện qua ảnh. Phải phát ra tiếng nói qua một tần số nào đấy thì Bích Hằng mới có thể nghe thấy và nói lại cho tôi nghe. Đối với tôi, nó là vô hình nhưng đối với Bích Hằng, nó là hữu hình. Đối với tôi, nó là câm lặng nhưng đối với Bích Hằng, nó lại phát ra âm thanh với đầy đủ những sắc thái sống động của tình cảm, tư duy, hệt như tiếng nói của người đang sống. Vậy vấn đề đặt ra ở đây là: Nếu linh hồn là một dạng vật chất có hình thù và khả năng phát ra âm thanh thì, theo cách nói của triết học, nó thuộc phạm trù tồn tại mang tính khách quan chứ không thuộc phạm trù ý thức mang tính chủ quan. Nhận biết được nó hay không là tuỳ khả năng của từng người. Đối với tất cả những gì ta chưa có khả năng nhận biết được mà đã vội vất vào cái sọt rác mê tín dị đoan thì khoa học còn việc gì để nghiên cứu? Lâu nay, tôi cứ đinh ninh cho mình là duy vật, hoá ra chính mình lại là duy tâm chủ quan: cái gì mình cho là nó tồn tại thì nó tồn tại. Cái gì ta cho là nó không tồn tại thì nó không tồn tại, nó chỉ là mê tín dị đoan”.

Lần đầu tiên trong đời được tiếp xúc với linh hồn, GS Phương nhận ra như thế. Song những thông tin do linh hồn cung cấp đúng hay sai thì phải chờ vào kết quả cuộc đào bới. Điều kỳ thú là thông tin do Bích Hằng cung cấp về vị trí hài cốt lại trùng khớp với tấm sơ đồ do nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã vẽ trước đây nên GS Phương vô cùng háo hức, coi đây cũng là dịp để kiểm nghiệm lại “cái trận đồ bát quái” của anh. Hy vọng xen lẫn hoài nghi, ông nóng lòng chờ ngày hẹn Bích Hằng về La Tiến. Và cuối cùng, ngày hẹn được ấn định: 17 tháng 8 năm 1999.

Kỳ 13:  Chuẩn bị cho cuộc tìm mộ lần thứ 5

Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Kỳ 11: Ngày tìm mộ thứ nhất: Quán bà Nhờ, cô bé mặc áo xanh

Nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã

Đúng hẹn, ngày 28 tháng 7, cả gia đình giáo sư Trần Phương tìm đường về La Tiến, cách Hà Nội chừng 100km. Đoàn chia làm nhiều ngả, đối chiếu với bản đồ mà tìm. Có một lối hướng thẳng vào giữa làng La Tiến là trùng khớp với bản đồ. Có điều, đường từ bến đó đến nơi ghi là phần mộ lại rất ngắn, chỉ bằng 1/3 cự ly trong bản đồ. Băn khoăn, giáo sư Phương bèn điện thoại hỏi anh Nhã. Từ thành phố Hồ Chí Minh, anh Nhã bảo: “Cự ly do tôi ước lượng nên có thể không chính xác. Miễn là tìm thấy các dấu hiệu đã ghi, nhất là 4 tín hiệu nơi phần mộ”.

Cả nhà hướng mắt ra bốn phía quan sát kỹ lưỡng rồi săm soi đối chiếu với tấm bản đồ. Lần theo chỉ dẫn và các tín hiệu trên đường: trường học, đình làng, quán tạp hoá màu xanh dương, ngã tư, (tất cả đều trùng khớp với những tín hiệu anh Nhã cho trước), đoàn đến đất nhà ông Điển, một nông dân kiêm thợ nề. Hai vợ chồng ông chỉ đoàn ra dải đất phía ngoài đê, cạnh vụng Quạ (một khúc cua của con sông Luộc, nơi các xác chết thường bị cuốn vào, quạ đến ăn nhiều nên dân làng gọi là vụng Quạ), cách nhà ông chừng nửa cây số, nơi đó có 3 ngôi mộ vô thừa nhận. Mọi người sướng rơn nhưng khi đến xem xét kỹ lại không thấy một dấu hiệu nào như anh Nhã cho nên đành quay về nhà ông Điển.

Đứng trước cửa nhà, nhìn về chân đê sông Luộc, chếch về phía tây là ngôi nhà anh An. Nhà xây bằng gạch nhưng để ở chứ không bày biện bán hàng gì. Anh An cho biết: vợ anh có một gian hàng bán lòng lợn ở chợ La Tiến, sáng sớm gánh hàng ra bán song nếu ai cần mua tại nhà anh chị cũng bán. Như vậy cũng có thể tạm coi là quán hàng được.

Còn đất bà Nhường? Hỏi thăm cả làng, chẳng ai có tên như vậy. Chỉ có một bà lão tên Nhương, khoảng 70 tuổi. Bà vốn trước đó cũng là một nữ du kích, hoạt động cách mạng cùng cô Khang. Cách đó mấy năm, bà có nhắn giáo sư Trần Phương về nhận một bộ hài cốt vô thừa nhận. Bộ hài cốt có hàm răng màu trắng, giống hàm răng của cô Khang nên bà cho là hài cốt của người đồng đội mình.

Như vậy, những dấu hiệu dẫn đến ngôi mộ đã tìm thấy nhưng dấu hiệu của chính ngôi mộ thì chưa. Đành chờ đến 13h 30. Giữa trưa hè trời nắng hầm hập như đổ lửa, đoàn vẫn chia làm mấy nhóm đón lõng ở các ngả đường dẫn đến nhà ông Điển. 10 phút. Rồi 15 phút ngột thở trôi qua. Bỗng một tốp học sinh ào ào đạp xe từ cuối làng tới. Nhìn kỹ, thấy toàn con trai. Mấy phút sau, có một tốp con gái đi bộ tới. Mọi người liền giữ các em lại hỏi thăm. Các em chỉ nhà bà Nhương ở gần ngã tư, sau cái đình làng. Ba em săng sái dẫn ông Quỳnh, em ruột giáo sư Phương tới đó, còn một em đứng lại. Giáo sư Phương giật mình. Em gái ấy mặc áo màu xanh lá cây, có hai bông hoa to in trước ngực. Hỏi về những ngôi mộ vô thừa nhận, em chỉ mấy ngôi ở vườn chùa ngay cạnh chỗ đứng. Giáo sư Phương biết, đó là mộ của những người chết đói năm 1945. Em lại chỉ 3 ngôi mộ phía ngoài đê, cạnh vụng Quạ, nơi mà đoàn đã ra tìm từ sáng. Hỏi thêm em một số chuyện nữa nhưng cũng không thu thêm được thông tin quan trọng gì. Đến xế chiều, gần như mất phương hướng, giáo sư Phương lại gọi điện cho anh Nhã. Anh hỏi: “Có thấy lạch nước không? Có cái cống không?”. Anh Nhã hỏi cứ y như anh đang nhìn thấy vậy. Rồi anh bảo: “Bác hãy đi tìm ngôi nhà mà bốn mặt đều sơn màu trắng, phía trước đầy hoa đỏ”.

Cái cống lớn xây bằng gạch cạnh đất chùa, xế nhà ông Điển, chính là nơi giáo sư vừa ngồi nói chuyện với bé gái mặc áo hoa màu tím. Còn lạch nước? Hỏi ông Điển, hồi lâu ông mới sực nhớ ra: Ba mươi năm về trước, chính cái đầm sen là một vùng ruộng trũng. Bờ ruộng chạy song song với một con lạch dẫn nước qua cống cửa chùa vào ruộng mạ mà nay là đất ở của ông và mấy nhà xung quanh. Cuối những năm 60, để lấy đất bồi đắp con đê sông Luộc, người ta đã biến vùng ruộng trũng thành đầm sen bây giờ. Bờ ruộng và cái lạch nước cũng biến mất trong lòng cái đầm sen ấy.

Mọi người ngó nghiêng khắp làng để tìm ngôi nhà tứ bề quét vôi màu trắng mà chẳng thấy. Chỉ thấy nhà màu vàng hoặc xám. Bỗng ông Tân Cương, một cộng sự của giáo sư Phương chỉ vào cái quán bên đường: “Hay là cái này?”. Đó là cái quán nước nhỏ, thấp lè tè, xây bằng gạch, đủ kê một cái giường và cái chõng, trên bày bán mấy gói kẹo và mấy chai nước ngọt. Quán mới xây, cả 4 mặt đều quét vôi trắng xoá. Ông Tân Cương lý luận: “Một cái quán cũng có thể coi là nhà được lắm chứ”. Vậy còn hoa đỏ? Đảo mắt một vòng, anh Tân Cương reo khẽ. Nhìn theo hướng tay anh chỉ về phía đầm sen, mọi người sững sờ. Cả một biển hoa sen hồng thắm giữa trưa hè. Hương đưa ngào ngạt.

Chủ quán là một bà lão hom hem. Cụ cho biết tên là Mân. Nhưng đó là tên chồng, còn tên thật của bà là Nguyễn Thị Nhờ, năm nay 81 tuổi. Mọi người sục sạo tìm kiếm đến tối mịt mà chẳng thấy thêm tín hiệu gì đành quay về Hà Nội. Gọi điện cho anh Nhã, anh chấn an: “Tìm được cái quán trắng làm mốc là tốt rồi. Bác nên tìm tiếp tục. Hôm nay chưa thấy thì ngày mai lại đi. Chỉnh mộ là cả một hành trình đầy vất vả, không thể một lần mà trúng ngay được”. Rồi anh chỉ dẫn tiếp: “8h sáng mai bác phải có mặt ở cái quán quét vôi màu trắng ấy. Bác hoặc con bác hãy thắp 20 nén hương ở lối đi bên cạnh. Khoảng 8h30’, có một con chó vàng nâu đứng cách đó chừng 10m. Nó nhìn bác một lát rồi đi. Thỉnh thoảng, nó ngoái đầu lại xem bác có đi theo nó không. Bác cứ đi theo và giữ khoảng cách. Đi chừng hơn 100m, con chó sẽ dừng lại, hít đất rồi bới. Bác hãy nhớ lấy chỗ đó, quan sát kỹ, tìm những dấu hiệu trên phần mộ như đã ghi trong bản đồ”. Ngừng một lát, anh Nhã dặn tiếp: “Nếu không thấy con chó xuất hiện thì chờ đến khoảng 9h, tìm kiếm quanh vùng sẽ thấy một con chó vàng nằm bệt như ốm. Đánh dấu lấy chỗ ấy mà đào. Đào thấy thì con chó sẽ hết ốm. Khi nào thấy tín hiệu thì điện thoại lại, tôi sẽ chỉ dẫn tiếp”.

Ngày thứ 2 tìm mộ: Con chó nằm bẹp như ốm – Quả trứng trên đầu đũa

Sáng sớm hôm sau, đoàn lại lục tục quay trở lại La Tiến. Việc đầu tiên là chia ra làm nhiều tốp, đứng ở các ngả đường xem có con chó vàng nâu nào tiến về phía quán nước quét vôi trắng không? Chờ đến gần 9h vẫn chưa thấy tín hiệu gì. Đành chuyển sang phương án 2: tìm con chó vàng nằm bệt như ốm. Mọi người sục sạo vào từng nhà quanh vùng. ở đây, nhà nào cũng nuôi chó vàng, thấy khách lạ, chúng nhảy sồ ra sủa inh ỏi, chẳng thấy con nào nằm bệt một chỗ. Cô Nam (em ruột cô Khang) mấy lần vào ra nhà cụ Nhờ, ngó ngó nghiêng nghiêng khắp xó xỉnh, bỗng phát hiện thấy phía sâu bên trong gian nhà phụ, dưới gầm giường, có một con chó vàng nằm ệp. Mọi người lần lượt vào xem, nó vẫn nằm im thít như cục bông, chẳng gầm gừ hay sủa. Hỏi cụ Nhờ, cụ chép miệng bảo: nó chửa, chê cơm mấy hôm nay rồi. GS Phương liền điện thoại cho nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã. Anh chỉ dẫn: Tìm kiếm trong vòng bán kính 10 m xem có những dấu hiệu trên phần mộ (cách mộ 4m có một gốc cây đổ, trên mộ có khúc cây dài 4 tấc, một cục gạch vỡ màu nâu đỏ và 5 cây cỏ dại có hoa màu tím nhạt) không?

Từ chỗ con chó nằm ệp, GS Phương kẻ một vòng tròn có bán kính 10 m. Phần lớn vòng tròn bao lấy sân gạch và nhà của cụ Nhờ, chỉ một phần nhỏ lấn sang khoảnh vườn hẹp trước tường hoa nhà ông Điển. Khoảnh vườn này, hôm trước đoàn đã đi qua mà không ai để ý đến mấy vạt rau lang. Cả nhà dán mắt xuống đất tìm. Anh Tân Cương bỗng phát hiện ra một gốc cây đổ bị vùi lấp dưới lớp dây lang, gốc cây to bằng bắp chân, dài hơn gang tay. Trên thân lơ thơ mấy cái chồi cằn cỗi. Ông Điển bảo đó là cây nhót ông chặt năm ngoái nhưng chưa kịp đánh gốc. Tiếp tục tìm kiếm, thấy cách gốc cây nhót về hướng đông chừng 2m, có nửa viên gạch vỡ màu nâu đỏ nằm cạnh một cành cây khô to bằng cổ tay, dài nửa mét. Nhìn tiếp về hướng đông chừng 3m nữa, dưới tán cây cam thấp lùn, cả đoàn reo lên khi trước mắt hiện lên cả một dãy hoa màu tím nhạt bung lên khỏi đám rau lang. GS Phương tỉ mẩn ngồi dếm được đúng 5 gốc, mỗi gốc nở hai bông hoa to và dài bằng ngón tay.

Sau khi rà soát lại kỹ càng, GS Phương lại điện cho anh Nhã. Anh bảo: “Từ gốc cây đổ đến dãy hoa tím, vẽ một hình tam giác. Bác hãy đứng vào giữa rồi đánh dấu lại. Lấy một chiếc đũa cắm xuống chỗ đó. Chính tay bác hoặc người khác nhưng phải cùng máu mủ với cô Khang, đặt một quả trứng lên đỉnh chiếc đũa. Nếu quả trứng nằm vững trên đầu đũa là đúng. Nếu không nằm im thì cắm chiếc đũa lùi ra nửa mét”.

Bà Điển lập cập chạy vào bếp rút từ ống đũa ra một chiếc rồi chạy ra chuồng gà nhặt trong ổ một quả trứng vừa mới đẻ đưa cho GS Phương. Ngồi ngắm nghía chiếc đũa tre khẳng khiu, tay vân vê quả trứng gà, GS Phương chột dạ: Tay Nhã đánh đố mình đây. Song lại tự chấn an: vấn đề là ở chỗ phải ngắm cho thật cân và không được xúc động. Hít một hơi thật sâu, GS Phương rón rén đặt quả trứng lên đầu chiếc đũa. Gần trăm con mắt dán vào quả trứng gà như nín thở. Bịch! Quả trứng rơi xuống đất. Nhặt lên, khẽ khàng đặt lại. Lần 2, lần 3… Đặt nằm rồi đặt đứng. Quả trứng vẫn lăn bo lo xuống đất. GS Phương ngồi bệt xuống đất, thở hắt ra. “Chỉ tại cái đũa chết tiệt. Tiết diện quá nhỏ mà lại không phẳng thì tài thánh cũng chẳng đặt được quả trứng tròn cho cân”.

Nghĩ vậy nhưng GS đứng dậy, lùi lại nửa mét, mặt vẫn hướng vào tường hoa. Cắm chiếc đũa cho thật thẳng rồi nhẹ nhàng đặt quả trứng lên. Mọi người vội chìa tay ra hứng sợ trứng rơi vỡ. Ô kìa! Kỳ lạ quá! Quả trứng nằm im trên đầu đũa tựa như có chất keo kết dính. (Xem ảnh)

Từ phải qua trái: GS PHương, vợ chồng cô Năm (em ruột cô Khang),

anh Tân Cương

Mặc dầu không tin vào sự can thiệp của cô Khang (vì làm gì có linh hồn mà can thiệp? Mà nếu có thì linh hồn đâu phải là lực hút vật chất – GS Phương nghĩ thế) nhưng GS vẫn thở phào nhẹ nhõm vì nếu không làm được điều này sẽ không thể đi tiếp bước sau. Lại gọi điện cho anh Nhã cầu cứu. Anh bảo: “Lấy quả trứng làm tâm, vẽ một hình chữ nhật dài 2 mét, rộng 1,2m rồi đào sâu xuống 1,5m cho đến lớp cát đen, hài cốt sẽ ở đó”.

Mặt trời đã lên đến đỉnh đầu. Vừa đói, vừa mệt, GS Phương quyết định tạm nghỉ, ra bến đò La Tiến ăn cơm. Trời đang nắng gắt bỗng đâu mây đen ùn ùn kéo tới, gió ào ào thổi cuốn bụi mịt mù. Mưa như trút nước. Mưa kéo dài lê thê. Chừng hơn một tiếng mới tạnh. Moị người vội vã kéo về nhà ông Điển. Anh Tân Cương bảo: “Phen này phải đền quả trứng của bà Điển là cái chắc”. Thế nhưng khi bước ra vườn, tất cả đều sững sờ khi thấy quả trứng vẫn nằm chon von trên đầu đũa bé xíu. Chẳng nhẽ khi mưa, lúc nào cũng có 2 giọt nước rơi cân bằng xuống 2 đầu quả trứng à? Lại còn gió to nữa chứ? Bụi tre bờ sông gió vặn còn nghiêng ngả cơ mà? Có điều gì huyền bí đây?

GS Phương từ từ gỡ quả trứng ra khỏi chiếc đũa để cho tốp thợ đào đất. Hai bàn tay ông cảm nhận rõ một sức hút nhẹ như có bàn tay vô hình cố giữ quả trứng. Hai tốp thợ thay nhau đào. Đầu tiên là lớp đất màu nâu. Sâu chừng 1,2m thì đến lớp bùn đen pha cát. GS Phương nhắc nhở mọi người rà soát từng xẻng cát xem có lẫn xương cốt không? Nhưng đào m•i đến độ sâu 1,5 m vẫn không thấy gì. Anh Nhã hướng dẫn qua điện thoại: phát triển về hướng Nam, đào sâu thêm 4 cm nữa. Hố đào lập tức được mở rộng thêm nửa mét ra phía bờ ao. Chiều sâu thì đến 2,8 m mà vẫn không có tín hiệu gì. Trời sập tối. Mọi người buộc phải ngừng tay. Nỗi buồn xen lẫn thất vọng hiển hiện rõ trên khuôn mặt già nua của GS Phương. Tuy vậy, ông vẫn quyết định ngày mai đào tiếp.

Kỳ 12: Ngày thứ 3 tìm mộ: Soát đống cát đen, thu dọn “chiến trường”

Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Kỳ 10: Hành trình tìm mộ em gái của Giáo sư Trần Phương

Giáo sư Trần Phương

“Chưa bao giờ tôi tin ở đời lại có linh hồn, thần thánh, ma quỷ. Ngay cả ngày giỗ bố mẹ, tôi cũng chẳng làm cơm cúng hay thắp hương khói gì sất, chỉ sửa một lọ hoa tươi để tưởng nhớ người đã khuất. Bởi tôi vốn dĩ được đào tạo theo tinh thần khoa học thực nghiệm. Cái gì chứng minh được mới tin là có. Cái gì chưa chứng minh được thì dứt khoát không tin. Cho nên, lúc cùng đường, nhờ các nhà ngoại cảm tìm mộ cô em gái vốn là đội trưởng đội du kích Hoàng Ngân, trái tim thì tha thiết tìm thấy em mà lý trí tôi thì cố tỉnh táo để tìm cách “chống trọi” lại khả năng gọi hồn, thấu thị… của họ. Vậy mà cuối cùng, tôi hoàn toàn bị khuất phục trước khả năng đặc biệt của hai nhà ngoại cảm nổi tiếng: Nguyễn Văn Nhã và Phan Thị Bích Hằng, người vẽ mộ, người gọi hồn. 24 ngày mò tìm trong bí ẩn, cuối cùng, tôi đã tìm được hài cốt người em gái sau ngót 50 năm trôi dạt”.

Tìm em theo sơ đồ của nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã

Giáo sư Trần Phương, nguyên Phó thủ tướng chính phủ, hiệu trưởng trường Đại học kinh doanh và công nghệ Hà Nội, có một người em gái, sinh năm 1929, tên là Vũ Thị Kính. Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, ngay từ năm 16 tuổi, cô Kính đã đi tham gia kháng chiến, trở thành một nữ giao liên gan dạ với bí danh Trần Thị Khang. Năm 1950, cô trở thành Huyện uỷ viên Đảng bộ Phù Cừ, Bí thư Hội phụ nữ cứu quốc huyện, người tổ chức và chỉ huy đội nữ du kích Hoàng Ngân nổi tiếng. Tháng 6 năm 1950, giặc bắt được cô, đưa về bốt La Tiến, một đồn binh lớn án ngữ phía nam tỉnh Hưng Yên, phía bắc tỉnh Thái Bình và phía tây tỉnh Hải Dương. Tại đây, giặc đã dùng mọi cực hình tra tấn dã man nhất (chuyện sẽ kể ở phần sau – PV) nhưng người nữ du kích kiên trung ấy vẫn không hé nửa lời. Tức giận, giặc đã cắt cổ cô rồi vứt xác xuống sông Luộc. Sau cái chết anh hùng ấy của cô, đội nữ du kích Hoàng Ngân đã phát động “Tuần lễ giết giặc, trả thù cho chị Khang”.

Cô Trần Thị Khang

Mặc dầu Huyện uỷ và đội nữ du kích Hoàng Ngân đã đi khắp các bến đục dòng trong những mong tìm xác cô mà không thấy. Thương con, người mẹ già khóc mờ cả mắt. Suốt mấy chục năm ròng, thỉnh thoảng, mẹ lại ngước đôi mắt đục mờ như cùi nhãn khô về phía giáo sư Phương, hỏi bằng cái giọng tủi hờn, xót xa: “Có tìm thấy xác em không hả con?”. “Bao giờ hết chiến tranh, con sẽ đi tìm. Chắc là thấy mẹ ạ!”. Miệng thì trả lời mẹ thế mà họng thì thấy nghẹn đắng. Cả một dòng sông Luộc mang mang, cuồn cuộn sóng trôi ra biển cả, biết tìm em nơi nào?

Mẹ mất. Tin tức về phần mộ em vẫn biền biệt phương trời. Giáo sư Phương lúc nào cũng sống trong cảm giác day dứt, đau xót, không yên. Năm 1989, khi đó, giáo sư Phương đang làm Viện trưởng viện nghiên cứu chiến lược phát triển, có xuống công tác tại Sở kinh tế đối ngoại (cũ) Quảng Ninh. Nghe anh em dưới đó đồn rằng, cách Bãi Cháy, về phía Hà Nội 20 km, có một cô công nhân, trước vốn bị tan nạn lao động, nay có khả năng ngoại cảm đặc biệt: biết quá khứ, dự báo tương lai, phán đúng như thần. Anh em trong cơ quan, ai có việc gì hệ trọng đều đến nhờ cô xem dùm. Họ khuyên giáo sư Phương nên đến đó xem một lần. Bán tín bán nghi, giáo sư Phương tìm đến. Nhà ngoại cảm là một người phụ nữ xanh xao, gầy yếu nằm bệt trên chiếc phản kê gần cửa sổ. Vừa nhìn thấy giáo sư Phương, cô đã nói, giọng yếu ớt: “Ghế có một người anh chết trẻ, chết trong lửa”. Giáo sư Phương giật mình đánh thót. Năm 1951, người anh ruột của ông là Vũ Sơn, trưởng ban tuyên giáo của đại đoàn 320, hy sinh trong trận đánh ở Hà Nam Ninh. Quả bom Na-pan rơi đúng hầm chỉ huy. Anh Sơn cùng một số đồng chí khác bị chết cháy. Chưa kịp trấn tĩnh, giáo sư Phương lại rụng rời khi nghe nhà ngoại cảm phán tiếp: “Ghế còn có một người em gái chết trẻ. Hài cốt vẫn còn nhưng vì ghế không tin nên không đi tìm”. Nhà ngoại cảm còn phán rất nhiều về cuộc đời, sự nghiệp, thân thế của giáo sư Phương khiến ông hoang mang: Có lẽ mình phải đi tìm manh mối thế nào đây? Tại sao có người lại biết nhiều về mình như thế?

Sau đó, về Hà Nội, ông nghe tin nhiều người tìm được mộ người thân bằng gọi hồn, thấu thị, ngoại cảm, với những tình tiết hết sức ly kỳ, huyền bí khiến ông càng hoang mang. Trong ông, chợt loé lên một niềm hy vọng mong manh: Biết đâu đấy. Nếu bằng phương pháp thần bí mà tìm được mộ em gái mình thì có gì phải câu nệ? Song ông lại chột dạ: lấy cái gì để xác nhận đó là hài cốt của em Khang sau 50 năm trôi dạt? Hàm răng trắng, không nhuộm đen ư? Thời đó, thiếu gì con gái không nhuộm răng? Đã có lần, bạn bè mách bảo ông một bộ hài cốt vô thừa nhận có đặc biệt là răng trắng. Lúc đó, ông đã đấu tranh tư tưởng: nhận hay không nhận? Nhận một bộ hài cốt mà trong lòng nghi hoặc mỗi khi tưởng niệm thì phỏng có ý nghĩa gì? Còn khám nghiệm AND ư? Quá xa vời. Song trong tình cảnh chính mình và cả khoa học thực nghiệm bị bất lực thì việc phải nhờ đến tâm linh huyền bí để giải toả nỗi đau tâm thế ám ảnh bao năm là việc nên làm. Nghĩ thế, ông bèn tìm cách tiếp cận các nhà ngoại cảm có tiếng tăm.

Chị Tuyết Nga, bạn ông, người đã nhờ nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên (Tứ Kỳ, Hải Dương) tìm được mộ người mẹ thân yêu bị giặc sát hại từ những năm 1960, khuyên ông nên đến nhờ anh Liên. Nghe lời, chú Quỳnh, em ruột của ông, ăn chực nằm chờ nhà anh Liên hơn một tháng trời, cuối cùng, được anh vẽ cho một tấm sơ đồ phần mộ. Nhưng sơ đồ lại ghi mộ cô Khang nằm ở huyện Khoái Châu (Hưng Yên), cách bến đò La Tiến đến mấy chục cây về phía thựợng lưu. Không thuyết phục. Đành tự an ủi rằng: chú em út chưa đủ thân thiết với cô chị nên thông tin chưa được chính xác. Cuối cùng, đích thân giáo sư Phương tìm đến cạy nhờ anh Liên. Nhưng chờ đến đỏ mắt vẫn không thấy nhà ngoại cảm mách bảo gì. Thương ông, chị Tuyết Nga bảo: “Em có người bạn là anh Nguyễn Văn Nhã, một nhà ngoại cảm nổi tiếng ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh Nhã đã vẽ được hơn 600 ngôi mộ, tỷ lệ trúng đạt trên 60%. Để em điện thoại nhờ anh ấy xem sao”.

Sáng sớm ngày 25 tháng 7 năm 1999, anh Nhã có mặt tại Hà Nội. Trong phòng làm việc của giáo sư Trần Phương, không có hương khói gì, sau khi hỏi vợ chồng giáo sư một số thông tin về cô Khang như tên tuổi, ngày tháng năm sinh, năm mất, bến đò La Tiến thuộc xã nào? Huyện Phù Cừ thuộc tỉnh nào? Bến đò ấy có cây cầu nào không?… (Điều đó chứng tỏ nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã không biết gì về vùng đất này), anh Nhã bèn lấy một tờ giấy trắng khổ lớn và mấy cây bút màu ra vẽ. Anh vẽ một cách thư thả, lưu loát. Dưới ngòi bút của anh, thấy hiện lên con sông uốn lượn, đường to, đường nhỏ giao nhau. Rồi anh ghi chú rõ ràng, rành mạch: Từ bến đò La Tiến đi về hướng Đông Nam thấy một trường học. Đi chừng 1,6 km thì đến một ngã tư. Phía trái ngã tư có cửa hàng tạp hóa cửa màu xanh dương. Rẽ tay phải thấy một cái đình. Đi tiếp 1km hãy rẽ trái vào một con đường nhỏ. Cách đó 45m là phần mộ cô Khang. Ngôi mộ nằm trên đất cô Nhường. Đối diện với mộ là quán ông An. Mộ chôn đầu về hướng tây, cách đó 4m có một gốc cây đổ. Trên mộ có một khúc cây dài 4 tấc, một cục gạch vỡ màu nâu đỏ và 5 cây cỏ dại có hoa màu tím nhạt…

Sơ đồ của nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã

Vẽ chừng 10 phút thì xong. Nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã ngẩng mặt lên hỏi giáo sư Phương: “Bao giờ thì bác đi tìm mộ?”. Giáo sư Phương trả lời: “Khoảng 3 ngày nữa”. Anh Nhã bảo: “Tôi sẽ cho anh một tín hiệu để dễ tìm. Hai con bướm nhé?”. Giáo sư Phương: “Hai con bướm sợ khó tìm”. Ngẫm ngợi giây lát, anh Nhã bảo: “Vậy thì một bé gái nhé”. Nói đoạn, anh cắm cúi ghi tiếp vào tấm bản đồ: 13h30’ngày 28 tháng 7, sẽ có một bé gái chừng 11 tuổi, mặc áo hoa xanh đến gần mộ. Rồi anh dặn: “Nếu bác đến sớm thì 5 cây cỏ dại có 10 bông hoa tím. Nếu đến muộn thì chỉ còn 5 bông”. Quá đỗi ngạc nhiên, giáo sư Phương hỏi: “Anh không biết tí gì về vùng đất đó, vậy dựa vào cái gì mà anh vẽ được tấm bản đồ chi tiết này?”. Anh Nhã lắc đầu cười xoà: “Tôi cũng chẳng biết nữa. Cứ thấy trong đầu hiện lên thế nào thì vẽ ra thế ấy”. Giáo sư Phương lại hỏi: “Thế còn những cái tên: đất cô Nhường, quán ông An?”. Anh Nhã: “Tai tôi bỗng nghe thấy những âm thanh ấy. Có thể là Nhương, Nhường, An hay Am gì đấy”. Trao tấm bản đồ cho giáo sư Phương, anh Nhã vội vã ra sân bay, vào thành phố Hồ Chí Minh. Còn giáo sư Phương cứ đứng ngẩn người, chẳng hiểu ra làm sao. Song tin hay không thì vẫn cứ phải làm theo chỉ dẫn của nhà ngoại cảm. Bởi còn cách nào khác nữa đâu.

Kỳ 11: Ngày tìm mộ thứ nhất: Quán bà Nhờ, cô bé mặc áo xanh

Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Kỳ 9: Tìm mộ vị lãnh tụ nông dân Hoàng Công Chất

và sự chắp nối kỳ diệu gia phả dòng họ Hoàng Văn

Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng

Trong suốt hành trình 15 năm phát tâm nguyện đi tìm những ngôi mộ bị thất lạc giúp đời, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, bằng khả năng đặc biệt, đã tìm được khoảng 7.000 hài cốt, trong đó phần lớn là hài cốt liệt sĩ. Đó thực sự là một kỳ tích,  đem lại niềm hạnh phúc nghẹn ngào cho hàng vạn người sau nhiều năm đỏ mắt mỏi mòn ngóng trông. Với chị, mỗi chuyến đi là một kỷ niệm. Mỗi cuộc tìm kiếm hài cốt là cả ngàn những tình tiết ly kỳ, xúc động, huyền bí không thể nào quên. Nhưng, hành trình đi tìm mộ người anh hùng nông dân Hoàng Công Chất đợt đầu năm 2005 có lẽ ám ảnh chị nhiều nhất. Đó không chỉ là sự ám ảnh bởi sự linh ứng đến kỳ lạ giữa cõi vô hình và hữu hình, giữa cõi âm và dương mà đó còn là sự chắp nối kỳ diệu của rất nhiều chi tộc dòng họ Hoàng sau hơn hai trăm năm dâu bể.

Từ lời sấm truyền trong dòng họ

Một buổi chiều đầu tháng giêng năm 2005, có hai người khách lạ tìm đến nhà Phan Thị Bích Hằng. Người đàn ông mặc bộ Veston chừng 45 tuổi, mặt mũi khôi ngô, tuấn tú. Người phụ nữ đi cùng trạc 40, mặt trái xoan, dáng người thanh mảnh, quyền quý. Người đàn ông tự giới thiệu, anh là Hoàng Văn Khánh, chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm Tổng giám đốc công ty Placo và em gái Hoàng Thị Sáu, quê Hải Phòng. Sau một chút bối rối, anh trình bày những uẩn khúc, trăn trở bao năm đè nén trong lòng khiến tâm bất an. Anh kể: Từ hồi còn nhỏ, anh đã từng nghe cha chú, trong nhịp dịp chén thù chén tạc, rung đùi vuốt râu tự hào về dòng dõi, tổ tiên. Nghe đâu, cụ tổ anh là thủ lĩnh nghĩa quân chống lại triều đình Lê – Trịnh. Năm 1770, linh cảm về một ngày đen tối đang đến gần, cụ cho người đưa 3 cháu nội về tổng Cổ Trà Nghi Dương (nay là thôn Ngọc Tỉnh, xã Tân Trào, huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng) những mong bảo tồn nòi dống. Có một câu sấm truyền từ đời nọ đến đời kia trong dòng họ Hoàng: “Bao giờ phát phú phát vương. Tầm lại cố hương. Bái tạ tiên đường. Nơi đó có chữ Hoàng gia đại tộc”. Sau này, trước lúc lâm chung, cha anh, rồi người chú ruột, cứ níu chặt tay anh mà dặn dò: “Con gắng tìm cội nguồn tiên tổ”. Lời trăn trối ấy cứ ám ảnh anh Khánh. Có uẩn khúc gì trong lời nói, tự sâu thẳm ánh mắt của cha?

Anh Hoàng Văn Khánh đang thắp hương trước tượng cụ Hoàng Công Chất

Khi trở thành một doanh nhân thành đạt ở Hải Phòng, ngẫm về lời sấm truyền tụng bao đời: “Bao giờ phát phú phát vương”, nhớ đến ánh mắt như van vỉ của cha trước lúc đi xa, anh Khánh quyết chí đi tìm tổ tiên dòng họ. Anh đi khắp nơi, ở đâu có đền thờ họ Hoàng là tìm đến nhưng mãi vẫn không thấy chữ “Hoàng gia đại tộc”, thấy cội nguồn tổ tiên. Một lần về Nam Định công tác, gặp một nhà nghiên cứu văn hóa lão thành, anh trải nỗi lòng mình. Nghe xong, nhà nghiên cứu cười khà: “Có lẽ, cụ tổ họ Hoàng đã run rủi ta làm sứ giả cho anh đây. Anh hãy về thôn Hoàng Xá, xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xem. ở đó, có nhà thờ dòng họ Hoàng Văn to lắm”. Vâng lời, anh Khánh tìm đường về Nguyên Xá, xin được vào thắp hương nhà thờ họ Hoàng. Anh chợt run bắn người khi nhìn thấy bức hoành phi treo chính giữa ban thờ với bốn chữ đại tự viết bằng chữ thảo: “Hoàng gia đại tộc”. Và oà khóc nức nở khi lật giở cuốn gia phả đã ố màu thời gian, thấy ghi chi tộc họ Hoàng Văn ở Hải Phòng. Té ra, cụ tổ của anh chính là người anh hùng nông dân Hoàng Công Chất. Cụ sinh ra tại Thủ Trì, Sơn Nam, nay là Hoàng Xá, Nguyên Xá, Vũ Thư, Thái Bình. Cụ là thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra năm 1739 cùng hai cuộc khởi nghĩa lớn khác của cụ Nguyễn Hữu Cầu (tức Quận He) và cụ Lê Duy Mật.

Nhưng mộ phần cụ Hoàng Công Chất ở đâu? Các con cháu cụ lưu lạc nơi nào? Đã rất nhiều năm anh Khánh cất công đi tìm kiếm di hài của cụ Hoàng Công Chất và mong muốn dựng lại hoàn chỉnh sơ đồ phả tộc mà không thành. Tình cờ, một lần, anh được đọc một tập tài liệu viết về hành trình đi tìm người em gái, vốn là một nữ du kích gan dạ của đội Hoàng Ngân năm xưa, của nguyên Phó thủ tướng chính phủ Trần Phương, dưới sự chỉ dẫn của nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã, đặc biệt là khả năng gọi hồn của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng (Chuyện sẽ kể chi tiết ở phần sau – PV) với rất nhiều tình tiết ly kỳ, huyền bí. Điều đó, thôi thúc anh tìm gặp Bích Hằng, nhờ chị tìm hộ di hài tiên tổ và các chi tộc bị thất lạc.

Ba ngày sau. Vào một đêm mưa dầm sùi sụt, rét cắt da cắt thịt, vừa chợp mắt được một lát, Bích Hằng chợt nghe thấy tiếng vó ngựa, tiếng gươm khua. Chaỵ ra sân mở. Chị giật mình khi thấy trước mặt là một người đàn ông quắc thước, da nâu, trống gươm đứng nhìn chị. Quan sát kỹ, thấy trang phục, tướng mạo đúng là một võ tướng. Xung quanh, có rất nhiều binh lính. Võ tướng cười, bảo: “Cháu đừng sợ. Ta là võ tướng họ Hoàng. Còn đây là quan quân của ta. Cháu đi về với ta đi. Con cháu ta đang mong đợi cháu từng ngày”. Nói đoạn, ông lên ngựa đi. Hình bóng khuất xa rồi mà tiếng cười hiền hậu còn vang mãi.

Bích Hằng choàng tỉnh. Chị sực nhớ đến chiếc các-vi-dít mà hai người khách họ Hoàng ở Hải Phòng để lại chiều hôm nọ. Đọc kỹ, thấy ghi: Hoàng Văn Khánh. Tổng giám đốc Công ty Placo. Trụ sở: Km5, đường Phạm Văn Đồng, Anh Dũng, Kiến Thuỵ, Hải Phòng. Điện thoại: 0913.24004. Bên tai chị lại văng vẳng lời nhờ cậy thiết tha của vị võ tướng họ Hoàng. Sáng sớm hôm sau, chị chủ động điện thoại cho anh Khánh, hẹn ngày 16 tháng giêng (âm lịch), chị sẽ xuống Hải Phòng tìm giúp.

Đến những tín hiệu cho trước

Đúng hẹn, sáng ngày 16 tháng giêng, Bích Hằng có mặt tại nhà thờ họ Hoàng ở xã Tân Thành, huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng. Đi cùng chị hôm đó, còn có nhà nghiên cứu Quan Lệ Lan, thư ký của Bộ môn cận tâm lý (Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người). Trước sự chứng kiến, thành tâm của đông đảo con cháu họ Hoàng, Bích Hằng đã vời vong linh của cụ Hoàng Công Chất về trò chuyện. Qua Bích Hằng, cụ bảo: “Những người đi theo triều đình thì coi ta là giặc cỏ. Nhưng nhân dân lại coi ta là anh hùng. Ta vẫn thích sống trong lòng dân hơn. Còn với các con các cháu, ta là giặc cỏ hay anh hùng, điều đó ta không cần quan tâm nữa. Chỉ biết rằng ta là cụ tổ của các con. Trước kia, ta đã cùng các tù trưởng Lò Ngải, Lò Khanh, Lò Thang đánh giặc giữ biên thuỳ. Nay ta đang ở đất châu Điện Biên. Đáng khen các con đã làm được những việc khiến ta thấy được an ủi nơi chín suối, mát mặt với tướng sĩ ba quân”. Anh Khánh chắp tay thành kính, giọng run run: “Thưa tổ! Xin tổ cho chúng con biết, hiện giờ mộ tổ ở đâu”. Cụ Hoàng Công Chất nói (qua Bích Hằng): “Các con cứ lên Thành Bản Phủ. Cứ nơi nào trồng cây đa là có nghĩa quân của ta. Trước kia, nhà Lê Trịnh đã cho quân khai quật mộ ta rồi chặt làm 3 khúc. (Chuyện này, chính sử cũng có nhắc đến). Chân ta, chúng ném xuống sông Nậm Rốn. Đầu, thân thì vứt lăn lóc. Đêm, nghĩa quân của ta lén đi lấy. Thân thì chôn ở gần sông Nậm Rốn nhưng cách đây ít năm, người ta đã ủi đi rồi. Đầu thì vác về gần Thành Bản Phủ, chôn dưới một gốc cây đa. ở đó có một cây thuốc. Khi các con đi tìm ta, sẽ có một người răng vổ gốc Thái Bình ra dẫn đường”.

Đang “thông dịch” cho mọi người nghe, bất chợt, Bích Hằng nhìn thấy một thiếu phụ trẻ người Thái, đứng cạnh cụ Hoàng Công Chất bưng mặt khóc. Lấy làm lạ, Bích Hằng hỏi, cụ Chất bảo: “Đây là liệt nữ Lò Thị Nương, con một vị tù trưởng ở Điện Biên”. Xưa, nàng đi theo cha đánh giặc, cảm phục tài đức của tướng Hoàng Công Chất, nàng tình nguyện làm vợ thứ 4. Sở dĩ cụ Chất gọi bà là liệt nữ vì bà đã hy sinh cho nghĩa quân. Chuyện rằng: trong một lần bị giặc Phẻ truy kích, bà cùng con trai là Hoàng Công Trực đã đánh lạc hướng cho nghĩa quân rút lui. Bắt được hai mẹ con, giặc đã đem bà ra làm mồi nhử. Chúng trói hai người vào chiệc cột gỗ chôn giữa đồng Tông Khao, xung quanh chất củi cao ngập đầu. Nếu tướng Hoàng Công Chất muốn chuộc vợ, con thì phải mở cổng thành. Bằng không, chúng sẽ thiêu cháy. Từ dưới đồng, bà Lò Thị Nương thét to: “Không được mở cổng thành”. Lửa cháy ngùn ngụt. Hai mẹ con bà bị thiêu chết. Xót thương người vợ hiền, cụ Chất cho trồng một cây đa trên mộ nàng. Nơi đây bốn mùa hoa nở. Hoa vàng và hoa đỏ. Cụ bảo: “Đó là những tín hiệu ta cho để các con đi tìm mộ. Khi đi, sẽ có một phụ nữ dân tộc Thái dẫn đường”.

Đi tìm di hài tổ tiên: sự linh ứng đến kỳ lạ

Một tháng sau ngày chiêu hồn cụ Hoàng Công Chất tại nhà thờ họ Hoàng ở Hải Phòng, sáng ngày 29 tháng 3 năm 2005, khoảng 50 người, già trẻ, gái trai đủ các chi ngành cùng nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng lên Điện Biên tìm mộ. Thành Bản Phủ là nơi đoàn đặt chân đầu tiên. Những nghi lễ trang trọng nhất đã được cử hành tại đây. Ông trưởng chi Hoàng Văn Nhương thành kính dâng sớ, cầu xin tổ tiên linh hiển, báo cho con cháu biết nơi tổ yên nghỉ để con cháu được tu sửa, thờ vọng. Lời khấn vừa dứt, sớ chưa kịp hoá bỗng một cơn gió lớn từ đâu ào đến. Và những thanh âm nghe “lách cách, lách cách” như hàng ngàn tiếng gươm khua khiến cả đoàn, đang thành kính chắp tay làm lễ đồng loạt quay lưng lại phía sau. Lại một cơn cuồng phong cuốn bụi mịt mù. Mọi người hốt hoảng chạy ra sân. Một cảnh tượng lạ lùng đập vào mắt khiến khiến tất cả đứng chết lặng: nền sân gạch đỏ giờ ngập tràn lá xanh. Có những chiếc lá còn non tơ. Tịnh không có một chiếc lá vàng nào. (Giữa xuân, kiếm đâu ra lá vàng?!). Đó là lá của ba cây đa, si, xanh quấn quýt trước đền trút xuống, tương truyền, do chính tay cụ Hoàng Công Chất trồng, như một lời nguyền với non sông giữ tình đoàn kết giữa miền xuôi và miền ngược, thề đòi lại và giữ yên biên cương đất nước. Cây đa là cụ. Cây đề là trời đất. Còn cây si loà xoà gốc rễ là dân tộc Thái. Qua Bích Hằng, cụ bảo, đấy là cụ khóc mừng khi thầy tề tựu đầy đủ con cháu trai gái, dâu rể… lên với tổ. Cụ bảo: Cụ có 4 anh em là Hoàng Văn Phiệt, Hoàng Văn Phí, Hoàng Công Chất và Hoàng Công Tại. Cụ có 3 vợ và có nhiều con. Hoàng Công Toản là con cả. Kế tiếp là Chính, Châu, Thao, Tần, Toản, Túc, Lựu  (Trùng khớp với gia phả – PV). Năm 1768, nghĩa quân của cụ bị quân của triều đình nhà Lê – Trịnh đánh tan tác. Con cháu cụ phải chạy ra bản Loong Luống. Hiện vẫn còn ở đấy. Tiên lượng về một ngày đen tối sẽ đến, để bảo tồn nòi giống, cụ cho người em gái là Hoàng Thị Chiên dẫn 3 đứa cháu nội là Cao, Tháo, Thọ về quê, cầu cứu nghĩa quân của Nguyễn Hữu Cầu (tức Quận He). Trong 3 đứa cháu, Tháo là người có chí nhất. Tháo lúc ấy còn bé lắm. Cụ trao cho Tháo một áo bào tía, một thanh gươm rồi bảo: “Con hãy giữ làm vật tin để dâng lên tướng Nguyễn Hữu Cầu”. Tháo cầm lấy thanh gươm từ tay ông nội. Thanh gươm cao hơn đầu, ôm lấy túi áo bào, vừa khóc vừa nói: “Ông ơi! Cháu sẽ khôi phục lại sự nghiệp của ông”. Nói đến đây, cả nhà anh Khánh khóc ầm lên. Cháu Tháo bé bỏng mà đầy chí khí ngày ấy chính là hậu tổ của anh Khánh. Trong gia phả ghi rõ: Cụ hậu tổ là Hoàng Quí Công, tự Công Tháo”. Anh Khánh vừa khóc vừa kể: Lúc còn sống, cha anh lúc nào cũng giữ khư khư một cái bọc, trong có chiếc áo bào tía và một thanh gươm. Một lần hoả hoạn, chiếc áo bào cháy mất. Cha anh khóc ròng mấy tháng trời vì tiếc. Đó là đồ gia bảo. Cha còn quý hơn cả tính mạng mình.

Sau một hồi làm con cháu trấn tĩnh, cụ Chất bảo: “Thôi! Giờ để ta hướng dẫn các con đến những nơi tổ yên nghỉ”. Cả đoàn bước ra khỏi đền. Từ trên cao phóng tầm mắt ra bốn hướng, anh Khánh reo to: “Cây đa cổ thụ kia rồi”. Nhìn theo phía tay anh chỉ, cách chỗ đứng chừng 500m, thấy một cây đa cổ thụ xoè bóng mát giữa trưa nắng vàng.

Mộ cụ Hoàng Công Chất nằm dưới gốc cây đa

Khánh phăm phăm dẫn đường. Bích Hằng vô cùng ngạc nhiên. Thấy vậy, mọi người mới kể: Cách đây chừng 10 năm, anh Khánh nằm mơ thấy tổ về chỉ đường cho tìm mộ. Tỉnh dậy, anh có kể lại cho gia đình và vẽ lại sơ đồ. Không ngờ, hôm nay, thấy thực địa diễn ra đúng như trong giấc mơ ấy nên anh mới thông thạo đến vậy. Lúc ấy, Bích Hằng mới ngả ngửa người. Chưa hết ngạc nhiên. Khi cả đoàn đứng trước đống mối lớn, dưới gốc đa cổ thụ chừng 200 năm tuổi, Bích Hằng vừa xác định: “đúng mộ cụ đây rồi” thì bất ngờ, từ đâu xuất hiện một người đàn ông răng vổ, bảo: “Đi tìm mộ cụ Hoàng Công Chất phải không? Tôi là Nguyễn Văn Nhân, quê Thái Bình lên đây lập nghiệp lâu rồi. Trước đây, tôi nghe các cụ già ở đây bảo: đây là nơi quân sĩ chôn một phần thi hài của cụ Chất đấy”.

Người đàn ông răng vổ

Như vậy, tín hiệu mà Bích Hằng cho từ Hải Phòng cách đây chừng một tháng: gốc đa cổ thụ, người đàn ông răng vổ quê Thái Bình, đã có kiểm chứng. Nhưng còn tín hiệu thứ 3: cây thuốc? Nhìn khắp lượt, chỉ thấy một cây hoa trắng, gốc cây bị vạc hết vỏ. Hỏi ông Nhân, ông cười bảo: “Cây này chữa sâu răng tốt lắm. Tước một ít vỏ, nhét vào chỗ sâu răng. Ngậm chừng 2-3 lần là khỏi”. Mọi người thở phào.

Cả đoàn lên bản Tông Khao tìm mộ cụ Lò Thị Nương. Hoa tiêu là một chị người Thái ở Chi hội phụ nữ Điện Biên. Xe ô tô chạy rì rì trên con đường đất đỏ, hai bên là ruộng lúa xanh rờn. Đến gần một cái ao, bỗng anh Khánh hô: “Dừng xe lại! Cụ kia rồi”. Vừa xuống xe, anh Khánh lao thẳng vào con đường bé xíu, ngoằn nghèo chuột chạy. Chạy đến lúc bở hơi tai thì dừng lại dưới một gốc đa cổ thụ. Chưa kịp định thần thì cả đoàn chết lặng: Trên thảm cỏ xanh rì, cả một bụi hoa loa kèn đỏ rực còn long lanh hạt sương sớm. Bên cạnh có một cây si, quả to như ngón chân cái, vàng rượi từ gốc đến ngọn.

Khóm hoa loa kèm đỏ trêm mộ Bà Lò Thị Nương

Cả nhà đang thắp hương xì xụp khấn vái thì có một người phụ nữ Thái đi làm đồng, bước lại hỏi: “Chúng mày vào đây để làm gì? ở nơi này, ngày xưa có một cái miếu thờ, có 3 bát hương. Song chỉ có họ Lò mới được vào đây cúng. Còn các họ khác chỉ đứng ngoài xem thôi. Sau này giặc phá hết. Miếu này thiêng lắm đấy”. Nghe vậy, anh Khánh lại khóc oà.

Người đàn bà Thái

Cuộc hội ngộ của các chi tộc họ Hoàng

Tìm được mộ tiên tổ, ước nguyện của anh Khánh đã hoàn thành được một nửa. Nhưng còn các chi tộc họ Hoàng khác? Nhớ đến lời kể của cụ Chất về cuộc chạy loạn của dòng họ Hoàng lên bản Loong Luống năm 1768, anh Khánh quyết định sáng hôm sau đi tìm. Hỏi thăm dân bản, họ bảo: Có bản Loong Luống. Nhưng trước bị lũ lụt nên dân đi hết rồi. Cứ tìm nhà nào họ Hoàng thì vào. Một gợi ý hay nhưng khác nào mò kim đáy bể. Đành nhờ cậu bí thư đoàn xã dẫn đường. Vào nhà họ Hoàng thứ nhất. Cả đoàn không có cảm giác gì. Hỏi quê, đúng Thái Bình. Hỏi ông nội là ai? Không biết. Hỏi bố đẻ là ai? Cũng không biết nốt. Đến nhà họ Hoàng thứ hai, ông Quàng Lả. Vừa thấy anh Khánh bước vào, hai vợ chồng đon đả chạy ra, tay bắt mặt mừng như người thân lâu ngày gặp lại. Linh cảm gì chăng? Ông Quàng Lả tự hào kể: “Các cụ ngày xưa khai thiên lập ấp ở dưới Loong Luống kia kìa. Ông cha ở đấy lâu lắm rồi. Lũ lụt mới chuyển lên đây”. Anh Khánh hỏi: “Sao ông lại là họ Quàng?”. Ông Lả lại cười: “Tao họ Hoàng đấy. Nhưng tiếng Thái, lúc Quàng, lúc Hoàng. Mà này, tao có một thằng cháu họ Hoàng, làm cán bộ tỉnh to lắm. Là cháu nhưng nó hơn tuổi tao nhiều. Nó tên là Xuyên. Nó có cả gia phả đấy”.

Thì ra là ông Hoàng Xuyên, nguyên Phó bí thư tỉnh uỷ Điện Biên. Tìm đến nhà ông Xuyên, anh Khánh xúc động quá. Vốn hàng ngày là người hoạt ngôn mà nay, ngồi trước ông Xuyên cứ lúng búng như gà mắc tóc. Bích Hằng phải trình bày dùm hoàn cảnh, mục đích cuộc gặp gỡ. Hỏi về cuốn gia phả họ Hoàng, lúc đầu ông Xuyên lắc đầu nguây nguẩy: “Tôi đâu có. Đâu biết”. Trong khi bà vợ ngồi cạnh lại cứ tủm tỉm cười, huých nhẹ khuỷu tay vào chồng: “Kìa anh! Đưa cho các cô chú xem đi. Cuốn gia phả dưới hầm ấy”. Đến nước này thì không thể chối được nữa. Ông Xuyên thú nhận: Đúng là trước kia, nhà ông có một cuốn gia phả viết bằng chữ Hán. Tổ tiên ông chính là tướng quân Hoàng Công Chất. Đợt cải cách ruộng đất, sợ bị kết tội là con cháu Then, Phìa thì bị giết cả nhà nên ông nội phải cất dấu dưới hầm. Hồi đi học Trung Quốc về, ông đã đem đốt đi. Ông kể, ngày trước, ở Đền Bản Phủ, mỗi khi đến ngày giỗ cụ Hoàng Công Chất, chỉ mình ông nội được ra lễ. Ông mặc áo vàng, cưỡi ngựa, có lọng che đầu. Hàng chục người hầu đội lễ rất to. Bây giờ Bảo tàng văn hoá còn lưu bức ảnh này. Nói đoạn, ông Xuyên và anh Khánh ôm choàng lấy nhau, khóc nấc lên. Thôi, đúng chúng ta là anh em rồi. Về tuổi tác, ông Xuyên gần gấp đôi tuổi anh Khánh. Nhưng về vai vế dòng họ, cả hai đều là cháu đời thứ 8 của cụ Hoàng Công Chất.

Ngày giỗ của cụ Hoàng Công Chất năm nay, chưa bao giờ con cháu lại tề tựu đông đủ đến thế. Chi tộc họ Hoàng ở Điện Biên về. Chi tộc họ Hoàng ở Hải Phòng xuống. Cùng chi tộc họ Hoàng ở Thái Bình. Tất cả, đều một lòng thành kính hướng về cội nguồn, tiên tổ. Bữa cơm đoàn tụ hôm ấy, đầy ắp tiếng cười và cả những giọt nước mắt hạnh phúc tuôn rơi…

Kỳ 10: Hành trình tìm mộ em gái của Giáo sư Trần Phương

Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Kỳ 8: 84 năm, hai thế hệ đi tìm mộ cha, ông

Bích Hằng đang trò chuyện với vong linh cụ Quyến

Sinh thời, Lương Ngọc Quyến có với người vợ thứ 2, bà Nguyễn Thị Hồng Đính, 3 mặt con: Lương Dân Nguyên, Lương Tân Khải và Lương Cao Vinh. Cả ba cậu con trai, bà Đính đều sinh hạ tại Trung Quốc. Năm 1917, sau khi Lương Ngọc Quyến hy sinh, bà gửi đứa con thứ 2 là Lương Tân Khải cho một phụ nữ Trung Quốc nuôi dùm rồi đưa 2 con Nguyên và Vinh về nước. Mất cha từ lúc tuổi còn thơ nhưng hình ảnh của cha với khí phách của một người anh hùng trọn đời hy sinh vì dân vì nước vẫn hiện hữu trọn vẹn, trở thành niềm tự hào trong tâm hồn hai cậu bé qua lời kể của mẹ. Sau này, trưởng thành, nỗi đau mất phần mộ cha trở thành nỗi ám ảnh, thôi thúc Nguyên và Vinh đi tìm. Nhưng hoàn cảnh thời ấy, chiến tranh thì liên miên, hết chống Pháp rồi đánh Mỹ, gia cảnh thì nghèo túng, Thái Nguyên thì mênh mông đồi núi, tin tức về cha gần như chẳng có, việc tìm mộ chẳng khác gì “mò kim đáy bể”. Năm 1967, ông Lương Cao Vinh lâm trọng bệnh mất. Gánh nặng tìm mộ cha dồn cả lên vai ông Nguyên. Năm lần bảy lượt đi tìm chẳng được. Năm 1993, tuổi cao sức yếu, ông Nguyên cũng ra đi. Trước khi mất, lời trăn trối cuối cùng với cậu con trai thứ Lương Quân vẫn là nỗi canh cánh trọn đời về phần mộ cha Lương Ngọc Quyến: “Con gắng thay cha tìm mộ ông. Bằng mọi cách phải tìm cho được. Bố linh cảm mộ ông được chôn gần một ngôi chùa nào đó trên Thái Nguyên”.

Thấu hiểu nỗi đau của cha. Nhưng biết tìm mộ ông ở đâu bây giờ? Năm 1994, qua báo chí, ông Quân biết đến khả năng tìm mộ đặc biệt của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng. Bấy giờ, tên tuổi của Bích Hằng đã vang dội cả nước qua hàng ngàn vụ tìm mộ, nhất là vụ tìm mộ tập thể 13 liệt sĩ ở Non Nước (Ninh Bình) và 5 mộ liệt sĩ ở Đông Triều (Quảng Ninh). Qua sự giới thiệu của ông Nguyễn Văn Huy, giám đốc Bảo tàng dân tộc học, quãng giữa tháng 4 năm 1994, ông Quân tìm đến nhà riêng của Bích Hằng ở Khu tập thể binh đoàn 11 (Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội) cùng bức ảnh truyền thần của ông nội Lương Ngọc Quyến được vẽ lại từ bức ảnh chụp của Sở mật thám Pháp khi ông Quyến bị cầm tù. Bích Hằng, sau khi thắp hương mời vong cụ Quyến về, cho biết: hình ảnh cụ hiện lên rất mờ, thông tin nhận được rất ít. Cụ nói, mộ cụ vẫn còn nhưng cốt không còn nhiều, được chôn gần một ngôi chùa nào đó ở Vô Tranh, huyện Phú Lương hay Phú Bình gì đó. Địa điểm không rõ lắm nên gia đình cứ lên đó mà tìm, hy vọng sẽ có người biết mà chỉ dùm.

Vài ngày sau, ông Quân tìm đường lên Thái Nguyên. Xem bản đồ, chỉ có xã Vô Tranh thuộc huyện Phú Lương. Ông bèn nhờ người cậu ruột, nguyên là cán bộ quân khu Việt Bắc giới thiệu với ông trưởng thôn Thống Nhất, xã Vô Tranh dẫn đi tìm. Phú Lương ngày ấy rừng núi còn rậm rạp, hoang vu, nhà nọ cách nhà kia một quả đồi. Sục vào từng nhà, gặp gỡ các cụ cao niên trong làng để hỏi nhưng chẳng ai biết gì về cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917, huống hồ là thông tin về phần mộ cụ Lương Ngọc Quyến. Bác trưởng thôn đưa ông Quân đến hai ngôi chùa trong xã. Một ngôi có tên là chùa Lụa nằm trên một quả đồi nhưng đã đổ nát hoàn toàn, chỉ còn lại những hòn đá kê chân cột. Xung quanh là rừng nứa ngút ngàn. Dưới chân đồi có một gia đình người Thái Bình lên khai hoang lập nghiệp từ những năm 1950. Hỏi về cụ Quyến, họ lắc đầu nguây nguẩy không biết, lại còn nghi ngờ ông Quân đi tìm đồ cổ. Ngôi chùa thứ hai cũng toạ lạc trên một sườn đồi, bạt ngàn sắn. Ông trưởng thôn cho biết, ngôi chùa này đã bị cháy lâu lắm rồi, do Pháp đốt. Nền chùa chính là chỗ đã mọc lên cây ngái to cỡ một người ôm. Người chủ nương sắn đã đan một tấm liếp nhỏ, dưới đặt bát hương để cúng vái thần linh vào những ngày rằm, mồng một. Đến hai ngôi chùa, ông Quân đều thành tâm thắp hương cầu nguyện, đi xung quanh quan sát địa hình kỹ lưỡng, hy vọng tìm thấy một dấu hiệu nào đó nhưng vô vọng.

Trở về Hà Nội, ông gặp Bích Hằng, kể lại chuyện lên Thái Nguyên tìm mộ cụ Quyến. Bích Hằng khuyên ông nên nhẫn nại, kiên trì. Chị khẳng định mộ cụ còn nhưng hiện thời chị chỉ giúp được thế. Sau đó, ông Quân có đến gặp Bích Hằng vài lần nữa nhưng cùng không thu được thông tin gì mới. Cũng trong thời gian ấy, anh em ông Quân có nhờ một số nhà ngoại cảm tiếng tăm khác như ông Đỗ Bá Hiệp (Hà Nội), ông Tư Liên (Đà Nẵng)  nhưng sự việc cũng chẳng sáng sủa gì. Giữa lúc tưởng chừng bế tắc, không còn một tia hy vọng gì thì ông Quân bất ngờ nhận được tin nhắn của Bích Hằng: đã có thông tin về phần mộ cụ Lương Ngọc Quyến. Ngay lập tức, ông Quân cùng ông Cơ, người em con ông chú ruột, vội vã đến nhà Bích Hằng. Chị vui mừng thông báo: chị vừa lên xã Vô Tranh, huyện Phú Lương tìm mộ nhà báo Thôi Hữu, hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong lúc “trò chuyện” với vong liệt sĩ Thôi Hữu, ông cho biết, quả đồi bên kia có mộ của người anh hùng Lương Ngọc Quyến. Rất tiếc, lúc đó trời đã sâm sẩm tối nên Bích Hằng không sang được.

Lần này, đến gặp Bích Hằng, ông Quân đã tháo bức ảnh cụ Lương Ngọc Quyến mà gia đình đã thờ phụng mấy chục năm nay. Bức ảnh này được chụp lại từ bức ảnh của Sở mật thám Pháp, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng cách mạng Việt Nam. Khi nói chuyện với vong cụ Quyến, chị Hằng nói cụ hiện lên rất rõ, cằm vuông, mắt sáng, đặc biệt là thông tin về phần mộ cụ rất nhiều. Cụ chỉ dẫn: Đi qua cây cầu có tên Rùng Rình thì tạt vào bên phải đường. Qua một thửa ruộng, lên một quả đồi, trên đó có một ngôi nhà ngói. Phía đầu hồi nhà có một bụi tre, một chuồng nuôi gia súc, dưới chân đồi có một cái ao. Giữa bụi tre và ao là một cây bạch đàn lớn mới bị chặt, trên gốc cây vừa nhú lên hai mầm non. Cụ nằm dưới gốc cây bạch đàn ấy.

Bứng gốc cây bạch đàn

8h ngày 23 tháng 12 năm 2001, chiếc xe Toyota 12 chỗ ngồi xuất phát từ Hà Nội đi Thái Nguyên. Đoàn đi bốc mộ gồm đông đảo con cháu cụ Lương Ngọc Quyến cùng nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng và đại tá Hàn Thuỵ Vụ, Phó chủ nhiệm Bộ môn cận tâm lý (Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người). Trước khi đi, thực hiện đúng lời dặn của Bích Hằng, gia đình đã thắp hương trên bàn thờ gia tiên, trình bày toàn bộ sự việc, xin phép lên đón cụ Lương Ngọc Quyến về. Hành trình đi khá thuận lợi. Thông tin kiểm chứng đầu tiên là cây cầu Rùng Rình, vốn trước đó là một cây cầu tre, khi đi qua thì cầu rung rinh, nay mặc dầu đã được bê tông hoá kiên cố song dân địa phương vẫn gọi bằng tên cũ: cầu Rùng Rình. Vị trí hài cốt cụ Lương Ngọc Quyến cũng nhanh chóng được xác định, trùng khớp với những thông tin Bích Hằng cho từ Hà Nội: Nương chè, bụi tre, chuồng gia súc (gia chủ mới dỡ bỏ), ao, gốc cây bạch đàn có hai mầm tái sinh. Chủ của nương chè này là ông Bân, năm nay chừng 50 tuổi, quê gốc Thái Bình, lên đây khai hoang từ cuối những năm 1970. Trước đó hai ngày, ông Quân đã lên đây, trình bày nguyện vọng với UBND xã Vô Tranh và gia đình ông Ban, xin được giúp đỡ. Vì hài cốt của cụ Quyến nằm trên nương chè của ông Bân nên việc khai quật sẽ ảnh hưởng ít nhiều. Ông Bân bảo: “Việc gia đình tìm mộ là việc nghĩa nên cứ thoả mải tiến hành”. Tuy nhiên, buổi sáng hôm đoàn lên khai quật, trong khi bà vợ săng sái đi đun nước, thành kính giúp đoàn lập bàn thờ thắp hương vì tin tưởng vào chuyện tâm linh, vào khả năng tìm mộ đặc biệt của nhà ngoại cảm thì ông chồng cứ chắp tay sau hông đứng nhìn, cười khành khạch, cho đấy là chuyện hoang đường, mê tín dị đoan.

Trước khi khai quật, Bích Hằng thắp hương tại mộ, mời cụ Quyến lên trò chuyện. Điều bất ngờ đầu tiên là vong của cụ bà Nguyễn Thị Hồng Đính cùng các con: Nguyên, Vinh cũng lên theo. Cuộc trò chuyện kéo dài gần hai tiếng đồng hồ trong sụt sùi nước mắt và tiếng cười (đã được gia đình ghi âm và đại tá Hàn Thuỵ Vũ quay phim đầy đủ, nay chất lượng băng còn khá tốt – PV) với rất nhiều thông tin mà gia đình ông Quân, ông Cơ xác nhận sau này là chính xác đến… 100%. Điều ngạc nhiên là có nhiều chuyện rất bí mật, riêng tư, chỉ rất ít người trong gia đình biết mà Bích Hằng cứ nói… vanh vách, khiến cả nhà… choáng. Ví như vừa thấy Bích Hằng reo: “Cụ bà cũng về đấy” đã thấy cụ trách (qua nhà ngoại cảm): “Sáng nay chúng may thắp hương sao không hoá vàng?”. Mọi người hướng sang cô Dung, vợ chú Thắng (em trai ông Quân). Cô Dung bảo: “Trước khi đi, em đã dặn anh Thắng hoá rồi cơ mà?!”. Nói xong, cô rút máy điện thoại di động, điện về nhà. Chú Thắng giật mình bảo: “Chết thật! Sáng anh vội đi dạy học nên quên chưa hoá”. Một lát, cụ bà lại bảo: “Hôm qua, ở quê vui lắm. Xã được tuyên dương anh hùng. Bao nhiêu anh em họ hàng nhà mình đều được nêu danh”. Cả nhà ngớ người, nhớ ra hôm qua (ngày 22 tháng 12 năm 2001), xã Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình – quê của cụ bà Nguyễn Thị Hồng Đính, vừa tổ chức lễ đón nhận danh hiệu anh hùng thời kỳ chống Pháp. Trong danh sách các anh hùng liệt sĩ có công với nước, có rất nhiều người thân của bà: ông nội là Nguyễn Mậu Kiến (1819 – 1879), thủ lĩnh văn thân chống Pháp ở Thái Bình. Cha là chí sĩ Cần Vương và Duy Tân Nguyễn Hữu Cương (1855 – 1912), cùng đông đảo anh em, cháu, chắt của bà từng được ghi danh trong sách sử của tỉnh.

“Thằng Long đâu rồi, bốc mấy nắm đất trên mộ ông cho bố mày khỏi đau bụng”. Nghe cụ bà gọi, cả nhà lại giật mình. Long là con chú Thắng, mới học lớp một. Thắng bị bệnh thận phải mổ. Vết mổ gần chục năm rồi vẫn cứ rỉ nước vàng, người đau yếu rất khó chịu. Cháu Long vâng lời, làm đúng lời cụ dặn. Chừng một tuần sau, vết thương lành, đến tận những ngày này (tháng 10 năm 2006) vẫn chưa thấy hiện tượng gì, trong khi trước đó, Thắng chạy khắp các bệnh viện, gõ cửa nhiều giáo sư, bác sĩ, thầy lang mà không khỏi.

Bích Hằng reo: “Ông Nguyên cũng lên đây này”. Ông Nguyên là con cả của cụ Lương Ngọc Quyến. Ông Nguyên bảo: “Thằng Chính mua cho tao cái vé máy bay để tao vào Sài Gòn chơi”. Chính nghe vậy, bưng mặt khóc tu tu. Chính là con ông Vinh, cháu gọi ông Nguyên là bác ruột, hiện lập nghiệp trong Sài Gòn. Khi còn sống, ông Nguyên luôn muốn vào Sài Gòn chơi với họ hàng, bạn bè, con cháu. Nhưng vì ông to béo, lại già yếu, nhiều bệnh tật, chuyện sinh hoạt cá nhân còn không tự làm được thì đi làm sao? Có lần, ông bí mật mua vé máy bay định trốn vào Sài Gòn chơi, may con cháu phát hiện ra kịp thời ngăn cản. Anh Chính bảo: “Chuyện này chỉ những người thân trong gia đình tôi biết và đã xảy ra từ 20 năm trước, cô Hằng không thể biết được”. Anh Chính hỏi Bích Hằng: “Cô thấy ông Nguyên hình dáng thế nào?”. Bích Hằng cười, bảo: “Ông lão to lớn, râu dài bạc phơ, mắt lúc nào cũng cười”. Anh Chính xác nhận, rất đúng với vóc dáng và tính cách của ông Nguyên.

Cuộc gặp gỡ, trò chuyện kéo dài đến 12 giờ trưa. Cụ Lương Ngọc Quyến vội giục: “Các cháu mau căng bạt che nắng để chuẩn bị đào. Xương cốt ông còn rất ít. May ra có thể thấy cái cùm sắt vì khi giam ông, giặc Pháp đã cùm ông rất chặt, xiên cả dây thép qua chân nên không tháo ra được. Khi chôn, ông nằm nghiêng, chân co, lưng quay về chân đồi. Rễ cây bạch đàn ăn vào chân ông khiến ông rất đau. Chính ông làm cho nó chết. Lát nữa, có nhiều nghĩa quân khởi nghĩa năm xưa đến đây để tiễn đưa ông. Các cháu nhớ nấu cho ông nồi cháo to để ông chiêu đãi quân sĩ”.

Việc đầu tiên là phải bứng gốc cây bạch đàn có đường kính hơn 30cm lên. Khi gạt hết phần đất mượn do trong quá trình làm nương, chủ nhà đã san lấp bớt cho đỡ dốc, đến phần đất cũ độ 20cm, Bích Hằng gạt mọi người ra, bảo: “Sắp đến hài cốt của cụ rồi. Cháu phải trực tiếp xuống vì mọi người không biết đâu mà xác định. Cụ bảo: đầu cụ là chỗ chú Tiến đứng (Tiến là anh ruột ông Quân). Chân cụ là nơi chú Chính đứng”. Cả nhà lại một lần nữa bị bất ngờ vì trước đó, không ai nói tên Tiến và Chính cho Bích Hằng biết. Tiếp xúc với Hằng, từ trước đến nay chỉ có 3 người: ông Quân, ông Cơ và cô Phấn (em gái ông Cơ).

Từ trái qua phải: Ông Lương Cơ, Lương Quân, cô Lương Phấn

Sau khi gạt thêm một vài lớp đất mỏng, Bích Hằng reo khẽ: “Cốt cụ đây rồi”. Trăm con mắt đều nhìn xuống hố, thấy rõ hình hài một bộ xương người trong tư thế nằm nghiêng, chân co lại. Xương ống đùi, cẳng chân với các đầu xương phình to hằn rõ trên nền đất. Phần ngực có rất nhiều bột trăng trắng, trong khi xung quanh là đất đen pha đá dăm. Bích Hằng dặn: “Cốt cụ vì chôn quá lâu, lại chẳng có hòm ván gì cả nên tan ra hết. Cụ dặn các chú nhớ bốc những đất lẫn cốt đem về để táng”.

Xương cốt cụ Quyến lẫn vào trong đất cát

Trong khi ông Quân, ông Cơ đang cặm cụi nhặt từng mẩu xương cùng đất vụn cho vào bọc vải đỏ thì trong sân, ông chủ nhà  mắt tái xanh, hốt hoảng chạy vào nhà thắp hương lạy như tế sao. Thấy lạ, chị Phấn mới kéo bà vợ ra hỏi nhỏ. Chị vợ cười, bảo: “Nhà em từ xưa đến nay không bao giờ tin vào chuyện vong hồn, thần thánh. Ngày hôm kia, khi bác Quân lên đây, có một đàn chim về rất đông, hót ríu ran trên bụi tre. Đêm qua, đột nhiên nhà em nằm mơ, thấy ở chỗ gốc cây bạch đàn có một vật đen tròn. Nhà em bèn vác cuốc ra cuốc hối hả chỗ ấy, rồi nghe thấy tiếng người bảo: ngày mai, con cháu tôi sẽ lên đón tôi về. Choàng tỉnh giấc, nhà em liền kể ngay với em song lại bảo: Chắc là tại ngày tôi nghĩ nhiều nên đêm mới mơ như vậy. Định bụng, cứ để mọi người xem thế nào. Nay, thấy mọi việc diễn ra đúng như trong mơ nên ông ấy mới sợ, vội vã thắp hương để tạ lỗi với cụ. Chứ từ ngày lấy nhà em, có bao giờ thấy ông ấy cúng vái bao giờ đâu”.

Sau khi công việc đã hoàn tất, nhìn sang quả đồi bên cạnh, cách chỗ vừa khai quật vài thửa ruộng, ông Quân thấy một tốp thợ đang đục đẽo gỗ để dựng nhà. Hỏi vợ anh Bân, được biết, thôn Thống Nhất đang dựng lại ngôi chùa trên nền cũ. Ông Quân cầm thẻ hương sang thì nhận ra, đó chính là ngôi chùa ông đã từng lên thắp hương, bát hương ngày ấy được đặt tạm lên cây ngái giữa bạt ngàn nương sắn. Ông chợt giật mình, nhớ lại cách đây 8 năm, Bích Hằng đã cho thông tin mộ cụ được đặt gần một ngôi chùa và băn khoăn không hiểu vì sao, trước khi mất, cha ông cũng dặn chắc như đinh đóng cột như thế?

Chi tiết cái cùm ở chân cụ Quyến, Bích Hằng nói “có thể còn” nhưng lúc đào lên không thấy. Tuy nhiên, tại khu vực phía chân cụ, mọi người thấy một vết đất vàng vàng như rỉ sắt. Có thể, trải qua hơn 80 năm mưa nắng, chiếc cùm sắt đã rỉ tiêu hết cả rồi?

Chiều ngày 23 tháng 12 năm 2001, tức mồng 9 tháng 11 năm Tân Tỵ, tại xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, lễ truy điệu và an táng nhà yêu nước Lương Ngọc Quyến đã được Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận tổ quốc và nhân dân xã cùng các thế hệ con cháu nội ngoại của ông long trọng tiến hành. Trên bia mộ ông, trân trọng đề dòng chữ: “Cụ ông Lương Ngọc Quyến (1885 – 1917), lãnh tụ khởi nghĩa Thái Nguyên”. Bên cạnh là bia mộ của bà Nguyễn Thị Hồng Đính. Phía trên, giữa hai bia là phù điêu tạo hình lá quân kỳ nền đỏ năm sao trắng của Việt Nam quang phục quân.

Như vậy, trải qua 84 năm đằng đẵng, cả hai thế hệ con, cháu cất công tìm kiếm, di hài của người anh hùng Lương Ngọc Quyến đã được an nghỉ tại quê nhà. Người hạnh phúc nhất có lẽ là ông Lương Quân. Bởi việc tìm được phần mộ ông nội Lương Ngọc Quyến vừa là việc hiếu đễ với tổ tiên, vừa trút được nỗi canh cánh nặng trĩu trong lòng người cha thân yêu suốt một đời đau đáu. Duy có một điều làm ông còn day dứt, khiến niềm vui kia của ông chưa trọn vẹn. Đó là phần mộ của người anh hùng Đội Cấn, vị lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm xưa, người bạn chiến đấu của cụ Lương Ngọc Quyến vẫn còn vùi lấp đâu đó trên những đồi núi điệp trùng Thái Nguyên. Hôm lên Vô Tranh đưa hài cốt cụ Quyến về quê nhà, qua Bích Hằng, được biết cụ Đội Cấn có đến chia vui và tiễn biệt người bạn. Lúc đó, cụ Đội Cấn có nhắn qua Bích Hằng vị trí nơi chôn cất. Sau này, khi đài báo đưa tin đã tìm được mộ cụ Lương Ngọc Quyến, có một vị cao niên nhận là cháu cụ Đội Cấn, tìm về Nhị Khê thắp hương. Song rất tiếc, gia đình ông Lương Quân không được gặp và vị khách ấy cũng không để lại địa chỉ. Nay, qua Thế giới mới, anh em ông Lương Quân xin nhắn nhủ: nếu con cháu cụ Đội Cấn đọc được những thông tin này và muốn tìm hài cốt cụ, xin vui lòng liên lạc với ông theo địa chỉ: Lương Quân, số 9 Núi Trúc, quận Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại: 04.8464679.

* Trong bài viết này, chúng tôi có sử dụng một số tư liệu trong cuốn “Lương Văn Can và phong trào Duy Tân – Đông Du”  của nhà nghiên cứu Lý Tùng Hiếu.

Kỳ 9: Tìm mộ vị lãnh tụ nông dân Hoàng Công Chất

và sự chắp nối kỳ diệu gia phả dòng họ Hoàng Văn