Feeds:
Bài viết
Bình luận

Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Kỳ 7: 84 năm đi tìm mộ người anh hùng Lương Ngọc Quyến

99 năm đã qua đi, kể từ khi ngọn lửa của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên bùng cháy (30/8/1917 – 5/1/1918). Đây là lần đầu tiên, trong lịch sử cận đại Việt Nam, một cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp đã chiếm được tỉnh lỵ, không những làm vang dội cả nước Việt Nam mà còn làm rung động nước Pháp và ảnh hưởng tới các xứ thuộc địa của Pháp. Cuộc bạo động ấy cùng tên tuổi của hai nhà lãnh tụ Lương Ngọc Quyến, Đội Cấn sẽ mãi mãi là những nét vàng son rực rỡ ghi trong trang sử hào hùng của đất Thái Nguyên, của lịch sử dân tộc. Song có một điều ít ai biết được rằng, phía sau cái chết còn nhiều bí ẩn của người anh hùng Lương Ngọc Quyến là cuộc hành trình tìm kiếm hài cốt có lẽ là dài nhất, đằng đẵng nhất – 84 năm, của rất nhiều thế hệ con cháu của cụ. Và đến tận những ngày này, khi chút ít hài cốt của cụ Lương Ngọc Quyến đã được tìm thấy nhờ khả năng đặc biệt của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng và được an táng tại quê nhà (xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây) thì di hài của người anh hùng Đội Cấn vẫn còn chìm lấp đâu đó giữa bạt ngàn nương chè, cỏ dại.

Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên và cái chết oanh liệt của người anh hùng Lương Ngọc Quyến

Cụ Lương Ngọc Quyến

Sinh ra trong thời buổi loạn lạc, đất nước bị giặc ngoại xâm giày xéo, ngay từ thuở nhỏ, cậu bé Lương Ngọc Quyến đã mang trong mình lòng yêu nước và mối căm thù giặc sâu sắc. Mặc dầu được cha là cụ cử Lương Văn Can, người sáng lập ra Đông kinh nghĩa thục, kèm cặp chữ thánh hiền song cậu bé Quyến vẫn chuộng võ hơn văn. Năm 1900, đi thi hương không đậu, ông bèn rũ bỏ con đường khoa cử, dốc hết tâm trí vào việc rèn luyện trí lực, những mong có thời cơ cứu nước. Tháng 10 năm 1905, khi nhà yêu nước Phan Bội Châu phát động phong trào Đông du, ngay lập tức, Lương Ngọc Quyến lên đường, trở thành một trong bốn học sinh có mặt tại Nhật. Ngày ra đi, ông cúi đầu lạy từ cha mẹ, gạt nước mắt phân ly, làm giấy cho phép người vợ hiền cải giá, để lại nhà đứa con thơ dại, chỉ mang một số tiền vừa đủ đến Yokohama (Nhật Bản). Cái nghĩa khí của một đấng nam nhi “ra đi đầu không ngoảnh lại” ấy đã gây một niềm cảm kích mãnh liệt trong lòng lãnh tụ Phan Bội Châu. Trong Ngục trung thư, cụ Phan đã dành những lời khen ngợi tốt đẹp nhất cho Lương Ngọc Quyến: “Tôi xem ra người thật có khí phách hăng hái, đầu tóc còn để bờm sờm. Dò hỏi mới biết Lương quân đã bỏ nhà trốn sang Nhật trơ trọi một thân, lúc lên đến bến thì trong túi chỉ còn vẻn vẹn 3 xu. Thấy thế tôi vừa mừng vừa chưng hửng. Vì bạn nhỏ tuổi nước ta, một thân một bóng mà dám liều mạng xông pha sóng gió muôn trùng đến một nước mình chưa quen biết bao giờ, Lương quân chính là người thứ nhất vậy. Té ra, Lương quân vốn là một thanh niên chứa sẵn kỳ khí, có hoài bão cao xa, chỉ nghe nói tôi đã sang Đông, cho nên mạnh bạo bỏ nhà ra đi, không kể gì mọi nỗi gian nan nguy hiểm. Bạn thiếu niên anh tuấn nước ta, có mấy người được như Lương quân?!”.

Tháng 5 năm 1906, Lương Ngọc Quyến được Phan Bội Châu bố trí vào học quân sự tại Chấn Võ Học hiệu (Simbu Gakku), một trường quân sự của chính phủ Nhật Bản đào tạo sĩ quan cho Trung Quốc. Nhưng đến ngày 10 tháng 6 năm 1907, Pháp và Nhật bắt tay nhau, nên ngày 8 tháng 3 năm 1909, Phan Bội Châu cùng toàn bộ du học sinh Việt Nam bị chính phủ Nhật trục xuất. Cụ Phan cùng Lương Ngọc Quyến và một số đồng chí phải sang Quảng Đông, nương náu ở nhà Chu Bá Linh, một nữ giáo viên Trung Quốc có cảm tình với các nhà cách mạng Việt Nam.

Bấy giờ, phong trào cách mạng trong và ngoài nước đều gặp nhiều khó khăn. Cụ Phan phải đi bán sách để sinh nhai, tối về lại cùng Lương Ngọc Quyến uống rượu giải sầu. Muốn thoát khỏi cảnh cùng quẫn, Lương Ngọc Quyến tìm đường về nước để vận động tài chính. Cụ Lương Văn Can đã gom góp được 250 đồng để Quyến mang sang Trung Quốc. Tháng 10 năm 1910, cụ Phan đã dùng số tiền ấy để đưa một số đồng chí sang Xiêm cày cấy, chờ đợi thời cơ. Năm 1911, cha Lương Văn Can lại đứng ra hỏi cưới và tổ chức cho Nguyễn Thị Hồng Đính, con gái thứ hai của chí sĩ yêu nước Nguyễn Hữu Cương (làng Động Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình) sang Đông Hưng, Trung Quốc để thành hôn với Lương Ngọc Quyến. Sau đó, với tư cách là một học viên đã tốt nghiệp Chấn Võ Học hiệu, Lương Ngọc Quyến được vào học trường Quân nhu học hiệu ở Quảng Đông và trường Sĩ quan học hiệu Bắc Kinh, rồi trở thành thiếu tá trong quân đội cách mạng Trung Hoa. Đang tuổi thanh xuân, ý chí giết giặc cứu nước luôn sôi sục nên ông lao vào học tập và thực hành sở học ngay trên chiến địa Trung Hoa. Cụ Phan nhận xét: “Lúc ấy, học vấn khác, phần nhiều Lương Ngọc Quyến đều không lưu ý, duy một khoa học quân sự chiến thuật thì lại thiệt tâm nghiên cứu. Cái chí đoản đao thất mã (thanh gươm yên ngựa) e không một phút nào quên”.

Tháng 6 năm 1912, nhân cách mạng Tân Hợi (1911) thành công ở Trung Hoa, Phan Bội Châu đã thành lập Việt Nam quang phục Hội, lấy chủ nghĩa dân chủ cùng mục tiêu “khu trục Pháp tặc, khôi phục Việt Nam, kiến lập Việt Nam cộng hoà dân quốc” làm tôn chỉ. Lương Ngọc Quyến cùng Hoàng Trọng Mậu được cử làm uỷ viên quân vụ thuộc Bộ chấp hành. Khi ấy, số hội viên tập hợp ở Quảng Đông lên đến cả trăm người. Để có lương thực nuôi quân, đầu năm 1913, Lương Ngọc Quyến về nước lần thứ 2. Tại nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Hữu Cương, Lương Ngọc Quyến đã bàn với con cháu các chí sĩ tiến hành hai cuộc tập kích vào Ty rượu Thanh Ba và Dinh tuần phủ Phú Thọ Chế Quang Ân. Rất tiếc, hai trận đánh này đều thất bại, nhiều chiến sĩ cách mạng đã hy sinh anh dũng. Đến tháng 4 năm 1913, Lương Ngọc Quyến lại đưa Phan Bội Châu đến tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) gặp người bạn đồng học cũ là Trương Huy Toản, đang giữ chức sư trưởng của quân đội Trung Hoa Dân quốc ở Hồ Nam để nhờ tài trợ. Trương Huy Toản nhận lời giúp nhưng ngay sau đó, Trung Hoa rơi vào nội chiến. “Hoạ vô đơn chí”, đang lúc gian nan thì ở trong nước lại xảy ra hai vụ đánh bom ở Thái Bình và Hà Nội khiến cho mạng lưới của Việt Nam quang phục hội bị càn quét tơi bời.

Giữa năm 1914, nhân cơ hội ở Châu Âu sắp xảy ra đại chiến, Lương Ngọc Quyến lên đường vào Sài Gòn, tìm xuống Long Xuyên gặp gỡ Dương Bá Trạc để trù tính việc đưa người sang Xiêm để khẩn ruộng, luyện quân, chuẩn bị lực lượng chờ thời cơ khởi nghĩa. Biết giặc Pháp sẽ tra xét kỹ ở biên giới Miên – Xiêm, Lương Ngọc Quyến thay đổi lộ trình, đi Hương Cảng để từ đó vòng sang đất Xiêm. Nhưng tại Hương Cảng, ông đã bị cảnh sát Anh phục bắt rồi giao cho nhà cầm quyền Pháp ở Quảng Châu Loan. Khoảng tháng 3 năm 1915, ông bị giải về Hà Nội, ra toà án binh Cao Bằng rồi lần lượt bị chuyển sang các nhà lao Hoả Lò (Hà Nội), Nam Định, Sơn Tây, Phú Thọ và lại quay về Hoả Lò. Tại đây, địch đã dùng những đòn tra tấn dã man nhất, cả những ngón nghề mua chuộc xảo quyệt song vẫn không làm lung lạc được ý chí sắt đá, nghị lực phi thường của người chiến sĩ cách mạng Lương Ngọc Quyến. Theo Việt Nam nghĩa sử lược (1918) của Đặng Đoàn Bằng và Phan Thị Hán (tức Phan Bội Châu), thì trong phiên toà xét sử Lương Ngọc Quyến tại Hà Nội, thực dân Pháp đã cho vời mẹ của ông – bà Lê Thị Lễ đến chứng kiến, hòng lợi dụng tình mẫu tử để lung lạc ý chí của ông. Nhìn thấy con mình bị gông xiềng tù tội, lòng mẹ đau đớn như cắt từng khúc ruột nhưng ra trước toà, vừa ngó thấy mặt con, cụ đã mắng: “Tao nuôi mày khôn lớn những mong báo đền nợ nước thù nhà. Nhưng mày làm thế nào để bị giặc bắt đưa ra xét sử, thật đáng xấu hổ”. Cụ bà cò cứng cỏi chất vấn quan toà: “Từ thuở còn là bào thai, chúng tôi đã dạy con về tình yêu thương giống nòi, chủng tộc. Bởi vậy, con tôi theo đuổi mục đích cứu nước là hợp với đạo lý của gia đình và của đất nước chúng tôi, sao lại gọi là phản loạn?”. Nói đoạn, cụ quay sang nói với con trai mình: “Mẹ chỉ mong con xứng đáng là công dân nước Việt đến hơi thở cuối cùng”. Là một người mẹ hiền đức, cần kiệm, tảo tần lúc thường ngày, nhưng chính trong thời khắc căng thẳng ấy, hốt nhiên, cụ bà Lê Thị Lễ bộc lộ trọn vẹn khí phách của một người mẹ Việt Nam anh hùng. Chính khí phách anh hùng của mẹ đã vun đắp thêm chí khí cho con.

Ngay trong địa ngục Hoả Lò, Lương Ngọc Quyến còn tìm mọi cách tuyên truyền, giác ngộ lòng yêu nước, căm thù giặc trong các bạn tù, kêu gọi họ nổi dậy chống thực dân. Biết không thể khuất phục được Lương Ngọc Quyến, ngày 25 tháng 7 năm 1916, thực dân Pháp bèn phạt ông án tù chung thân và đưa ông lên Thái Nguyên.

Tên Công sứ khét tiếng tàn ác Darles, để diệt trừ mầm nguy hiểm Lương Ngọc Quyến, đã sai lính dùi bàn chân của ông rồi tra xích sắt, làm cho ông bị liệt hẳn chân. Nhưng hắn không thể ngờ, hành động tàn ác ấy chỉ càng làm bùng lên ngọn lửa căm thù trong con người Lương Ngọc Quyến. Chính tại nhà tù của giặc Pháp, ông đã tìm được người đồng chí mới là Đội Cấn (tên thật là Trịnh Văn Cấn), một viên đội khố xanh yêu nước, đang phục vụ trong cơ binh Pháp ở Thái Nguyên. Xuất thân từ tầng lớp nông dân, tuy đứng trong hàng ngũ của địch nhưng Đội Cấn thấm thía vô cùng nỗi nhục mất nước và đau xót trước cảnh ngộ của đồng bào khi hàng ngày, tận mắt chứng kiến những hành động tàn ác của Darles với người bản xứ, với tù nhân, dân phu. Điều đó, đã hun đúc trong ông ý chí giết giặc cứu nước. Sau một thời gian, ông đã bí mật kết giao được với nhiều người có cùng chí hướng trong đơn vị. Lấy tư cách là Uỷ viên quân vụ thuộc Bộ chấp hành của Việt Nam quang phục hội, Lương Ngọc Quyến đã kết nạp Đội Cấn vào Hội.

Sau đó, một Ban chỉ huy khởi nghĩa đã được thành lập gồm: Đội Cấn, Lương Ngọc Quyến, Đội Giá, Đội Xuyên, Đội Nam, Đội 935 và một người đội văn thư. Kế hoạch tấn công đã được vạch ra: huy động lực lượng lính khố xanh ở trại tỉnh lỵ, các đồn lân cận (175 lính), các tù chính trị và tù thường phạm giác ngộ đánh chiếm tỉnh lỵ Thái Nguyên làm căn cứ. Khi cuộc bạo động nổ ra, sẽ có quân của Việt Nam quang phục hội từ bên ngoài vào tiếp ứng. 22 h ngày 30 tháng 8 năm 1917, ban chỉ huy hạ lệnh khởi sự. Đội Trường dẫn quân đi diệt tên giám binh Noel và các tên tay sai là Phó quản Lạp và Đội Hành. Đội Giá dẫn quân phá đề lao, diệt tên giám ngục Lô-ép, giải phóng 203 tù nhân, trong đó có Lương Ngọc Quyến. Tiếp đó, Đội Cấn tập hợp thành đội ngũ hùng mạnh, lấy đại nghĩa “giết thù cứu nước” để hiểu dụ anh em. 131 lính khố xanh đã đồng lòng hưởng ứng. Mọi người nhất trí bầu Đội Cấn làm Thái Nguyên Quang phục Quân Đại đô đốc và cử Lương Ngọc Quyến làm quân sư. Ngay đêm đó, nghĩa quân đã toả ra đánh chiếm các công sở như toà sứ, toà án, nhà đoan, kho vũ khí, kho bạc, nhà dây thép  và bao vây trại lính Pháp. Khi phá kho vũ khí, nghĩa quân đã thu được 167 súng trường và 62.175 viên đạn.

Sáng ra, nghĩa quân trương trước cửa thành lá quốc kỳ nền vàng năm sao đỏ do Việt Nam quang phục hội chế định và quân kỳ nền đỏ năm sao trắng của Việt Nam Quang phục Quân cùng bức trướng đề bốn chữ “Nam binh phục quốc”. Dùng loa tuyên bố Thái Nguyên độc lập, đặt quốc hiệu là “Đại hùng đế quốc”. Trước đó, từ ngay nửa đêm, nghĩa quân đã công bố bản “Tuyên ngôn thứ nhất” do ông Tú Nguyễn Gia Cầu khởi thảo, Lương Ngọc Quyến chỉnh sửa. Bản tuyên ngôn kể rõ tội ác của thực dân Pháp kể từ khi chúng xâm chiếm nước ta, nhấn mạnh dã tâm vơ vét của cải, đưa dân ta đi làm bia đỡ đạn ở chiến trường Châu Âu. Phần cuối, nhân danh Đại đô đốc Quang phục Quân Trịnh Văn Cấn, bản tuyên ngôn kêu gọi nhân dân đứng lên khởi nghĩa, đồng tâm hiệp lực diệt trừ giặc Pháp, dành độc lập cho tổ quốc.

Hưởng ứng lời kêu gọi, hơn 300 người dân địa phương đã tình nguyện gia nhập nghĩa quân nâng tổng số quân lên đến 623 người với võ khí tương đối đầy đủ. Cân nhắc tương quan lực lượng giữa ta và địch, Lương Ngọc Quyến và Đội Cấn đã chọn phương án cố thủ Thái Nguyên để chờ ngoại viện. Toàn thể nghĩa quân được tổ chức thành 8 đội, chia nhau đào công sự và ngăn giữ các hướng ra vào tỉnh lỵ. Lương Ngọc Quyến chỉ huy tuyến phòng thủ bên ngoài. Đội Cấn lo giữ phía trong.

Hốt hoảng trước việc tỉnh lỵ Thái Nguyên bị nghĩa quân chiếm đóng, ngày 31 tháng 8 năm 1917, thực dân Pháp cấp tốc điều quân từ Hà Nội và Đáp Cầu lên giữ đồn Gia Sàng. Sáng 2 tháng 9, bắt đầu mở cuộc tấn công với lực lượng hùng mạnh gồm 2.000 quân, có pháo binh, tàu chiến yểm trợ. Nghĩa quân đã kháng cự rất quyết liệt, tiêu diệt được 107 tên, sát thương 17 tên. Song trước kẻ địch mạnh gấp bội, nghĩa quân cũng bị tiêu hao, chỉ còn 250 tay súng nên buộc phải rút lui. Chính trong lần rút chạy ấy, Lương Ngọc Quyến đã anh dũng hy sinh.

Trưa ngày 5 tháng 9, Đội Cấn ra lệnh rút quân khỏi tỉnh lỵ để toả ra các vùng rừng núi xung quanh. Bị giặc Pháp truy đuổi ráo riết, nghĩa quân phải di chuyển suốt 4 tháng ròng từ Hùng Sơn (huyện lỵ Đại Từ), Quán Chu đến Vĩnh Yên, Phúc Yên rồi quay lại Thái Nguyên, đèo Nứa. Ngày 21 tháng 12, lực lượng của Đội Cấn tại căn cứ núi Pháo chỉ còn 30 tay súng nhưng đã đánh bật nhiều đợt tấn công liên tiếp của địch. Bị trọng thương và bị bao vây, vào lúc 21h ngày 5 tháng 1 năm 1918, Đội Cấn đã tự sát để khỏi sa vào tay giặc.

Tuy chỉ dành được độc lập vỏn vẹn có 7 ngày rồi bị địch dìm trong biển máu nhưng cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên vẫn là điểm son rực rỡ nhất của phong trào yêu nước theo đường lối bạo động. Điểm son ấy đã kết thúc một cách oanh liệt phong trào yêu nước trong hai thập niên đầu thế kỷ 20. Sau này, khi viết Phan Bội Châu niên biểu, cụ Phan một lần nữa, lại dành những lời hay nhất để ca tụng Lương Ngọc Quyến: “Việc Thái Nguyên Quang phục 7 ngày, ông thiệt là tướng tiên phong cho quân cách mệnh. Thế mới biết, người ta chỉ sợ không chí khí, không sợ không một ngày biểu hiện được. Xem ở ông Lương mà càng đáng tin lắm”. Còn học giả Nguyễn Hiến Lê, cũng không tiếc lời ca ngợi khi viết Đông kinh nghĩa thục: “Trong lịch sử cách mạng của dân tộc ta, hai cái chết đó oanh liệt và cảm động bậc nhất”.

Tuy nhiên, cái chết của người anh hùng Lương Ngọc Quyến, cho đến tận bây giờ, vẫn còn là một ẩn số đối với các nhà nghiên cứu lịch sử. Đã có nhiều giả thiết về cái chết đầy bi tráng này. Theo nhà nghiên cứu Đào Trinh Nhất thì “Đến trưa ngày 5 tháng 9, tỉnh thành thập phần nguy cấp. Quang phục quân được lệnh bỏ tỉnh thành lục tục ra đi. Đội Cấn đã xếp đặt võng cáng sẵn sàng để đưa Lương Ngọc Quyến theo quân. Nhưng ông đã khảng khái từ chối, không muốn đi theo quân để anh em chiến sĩ phải bận lòng vì mình, phải chậm trễ trên đường bạt thiệp bôn ba, mỗi bước có giặc theo sau, mỗi bước phải quay lại cự địch. Ông quyết định chết ở Thái Nguyên, lấy hồn tiễn đưa các chiến sĩ. Sau mấy câu vắn tắt yên uỷ mọi người, ông nói với Đội Cấn, thành thực và tự nhiên: Ông bắn hộ một phát vào giữa ngực cho tôi khỏi trông thấy thực dân dày xéo lên lá cờ cách mạng. Bất đắc dĩ, Đội Cấn phải làm theo ý muốn ấy. Sau đó, di hài Lương Ngọc Quyến được nghĩa quân đào hố chôn lấp tử tế và san phẳng mặt đất rồi mới từ giã tỉnh thành kéo đi”. Nhưng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Kiệm thì “vào ngày 4 tháng 9, địch dồn hết lực lượng tấn công. Lương Ngọc Quyến trong lúc chỉ huy chiến đấu bị mảnh đại bác bắn vào đầu nên hy sinh ngay tại trận”. Chính cái chết đầy bí ẩn ấy đã dẫn đến hành trình tìm mộ dài dằng dặc ngót một thế kỷ của rất nhiều thế hệ con cháu người anh hùng Lương Ngọc Quyến sau này.

Kỳ 8: 84 năm, hai thế hệ đi tìm mộ cha, ông

Advertisements

Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Kỳ 6: Ngược ngàn thang đá lên bản Adiu

Điểm cao 463

Mặc dầu đã có tấm bản đồ chỉ dẫn khá chi tiết nhưng cũng phải mất hơn một tháng sau, gia đình chị Thắng mới quyết định lên đường tìm cha. Nhìn vào tấm bản đồ ấy cũng đủ thấy hành trình đi gian nan thế nào. Phải vượt qua sông qua suối, trèo núi cao vực sâu. Chị Thắng phải chuẩn bị rất kỹ lưỡng từ những dụng cụ nhỏ nhất như đèn pin, dao, võng, áo mưa, thuốc men. Đoàn khởi hành từ Hà Nội vào chiều ngày 31 tháng 2 năm 2002 gồm 5 thành viên: Ông Trần Tích Tiến (trưởng đoàn), nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy (phó đoàn), anh Vũ Duy Đoàn, chị Vũ Thị Thắng, anh Nguyễn Văn Thành và bác sĩ Phạm Đỗ Bình. Sáng hôm sau, đoàn đã có mặt ở huyện Hiên, tỉnh Quảng Nam. Biết đoàn vào tìm mộ liệt sĩ nên các đồng chí lãnh đạo và cán bộ phòng Lao động thương binh và xã hội huyện và Huyện đội tiếp đón rất chu đáo và tận tình giúp đỡ. Tuy không tìm thấy danh sách của liệt sĩ Vũ Duy Dư song những thông tin mà huyện đội cung cấp đã trùng khớp với một số tín hiệu được xác lập trên tấm bản đồ: có bản Adiu, có điểm cao 463. Biết đường lên Adiu quá hiểm trở nên huyện đội đã cử đồng chí Đức, người dân tộc Cà-tu đi làm hoa tiêu cho đoàn. Đi được chừng 8km trên đường mòn Hồ Chí Minh thì bắt gặp một chiếc cầu treo bắc qua con sông rộng. Xe ô tô Toyota 15 chỗ buộc phải dừng lại. Cả đoàn chỉ mang theo những thứ thật cần thiết. Mỗi người một chiếc ba lô. Lặng lẽ vượt qua suối, qua đồi. Chừng 3 tiếng đồng hồ thì tới xã A-roi. Đồng chí Đức cho đoàn tạm nghỉ giải lao rồi cùng ông Tiến, anh Bảy lên thăm đồng chí Thắng, nguyên là huyện đội trưởng, nay đã nghỉ hưu để hỏi thăm tình hình bản A-diu. Thông tin ông Thắng cung cấp thật bất ngờ: ở bản A-diu có ông Lai, ông Luật, ông Hạo. (Đúng như thông tin nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy cung cấp từ Hà Nội). Nhưng ông Luật mất rồi. Ông Hạo thì chuyển đi nơi khác. Hiện chỉ còn mỗi bố Lai thôi. Ông Tiến sốt sắng hỏi: “Thế ở xã mình có điểm cao 463 không?”. “Có đấy. ở ngay sau bản A-diu ấy”. Đồng chí Thắng đáp. Nghe vậy, ông Tiến mừng rơi lệ. Nhìn sang Bảy, thấy mắt anh cũng rưng rưng. Chỉ mỗi anh Đức là khuôn mặt vẫn bình thản vì đoàn chưa cho anh biết những điều huyền bí trong tấm bản đồ.

Anh Thắng (bên trái) và anh Bảy

Tạm biệt đồng chí Thắng, đoàn tiếp tục hành trình lên bản A-diu. Cả đoàn cặm cụi đi, không ai nói với ai một lời. Một niềm xúc động đang dâng trào trong mỗi người. Chừng một giờ leo núi, đoàn đặt chân đến bản, nghỉ tại nhà ông Lai. Bản A-diu nghèo xác xơ với gần một trăm hộ, hầu hết là người Cà-tu. Bản nghèo đến mức anh Đức hỏi mua gạo để nhờ gia đình nấu cơm cho đoàn mà chạy khắp bản không mua nổi một bơ. Cô con gái bố Lai cười lỏn lẻn: “ở đây chỉ có sắn thôi” khiến cả đoàn sững sờ. Chị Thắng rầu rĩ bảo, không ngờ ở đời còn có những nơi nghèo khổ thế này”. Một nồi sắn to nóng hổi dọn ra. Cả đoàn sà vào. Chỉ có sắn luộc chấm với muối dầm, ớt xanh mà sao thấy ngon thế. Chị Thắng thở dài đánh thượt: Chả bù ở Hà Nội, toàn sơn hào hải vị mà bữa cũng chỉ nuốt được bát cơm.

Bố Lai ra huyện lĩnh lương từ sáng sớm, mãi đến sẩm tối mới về. Năm nay, bố khoảng 67 tuổi, người cao, gầy, nước da nâu đồng săn chắc. Bước chân đến sân, bố đã cười khơ khớ, để lộ hàm trên không còn một chiếc răng nào. (Đúng như tín hiệu anh Bảy cho). Bố hồ hởi kể cho đoàn nghe về các ngôi mộ mà khi làm rẫy, bố gặp song không phải ở bản A-diu. Bố cũng chẳng biết đấy là mộ của bộ đội hay địch vì ngày xưa đánh nhau, địch chết cũng nhiều và chôn ở những nương ấy. Biết đoàn từ Hà Nội lên tìm mộ liệt sĩ nên dân bản kéo đến rất đông. Chuyện nổ như ngô rang. Giữa lúc tiếng nói, tiếng cười râm ran khắp bản thì bất ngờ, một ông già tóc bạc như cước, người chắc lẳn như cây lim, cây táu bước đến trước mặt ông Tiến, hỏi: “Có phải đi tìm bộ đội Dư không? Tao biết nó đấy. Chính tao với thằng A-feng chôn nó vì hồi ấy, tao làm du kích bản mà”. Ông già ấy là bố A-mo. Bố kể: “Bộ đội Dư là bác sĩ. Nó bị thương, bộ đội để nó ở lại với dân bản. Nó đã cứu giúp dân bản, chữa bệnh sốt rét cho dân bản. Dân bản quý nó lắm. Nhưng đến lúc nó bị sốt rét thì hết thuốc nên nó chết đấy. Ai cũng khóc thương nó. Tao chôn nó ở đằng sau một cây to. Tao đánh dấu cây ấy rồi”. Cả đoàn sướng rơn. Ông Tiến hỏi mà lưỡi cứ líu lại: “Thế bố có nhớ bộ đội Dư mất năm nào không?”. Bố bảo, cuối năm 1969 nhưng tháng thì bộ chịu. Ông Tiến lại hỏi: “Bố có nhớ đường đến đó không?”. Bố A-mo cười: “Nhớ chứ. Nó ở trên núi cao đằng sau bản ấy. Đi lên đó, nếu mà người dân thì mất hai tiếng còn chúng bay phải mất 3 tiếng”. Ông Tiến đề nghị bố dẫn đường. Bố A-mo nhận lời ngay.

Đêm ấy, cả đoàn không sao chợp mắt được. Nằm chùm chiếu co ro mà cái rét vùng cao lạnh thấu thịt thấu xương. Nửa đêm, chị Thắng dậy ngồi bưng mặt khóc thút thít. Linh cảm về cuộc hội ngộ cha con sau bao năm cách biệt đang đến gần khiến chị xúc động.

Sáng sớm hôm sau, khi tiếng chim rừng vừa cất, đoàn đ• lục tục chuẩn bị lên điểm cao 463. Đi cùng đoàn còn có 3 trai bản cường tráng do già làng cắt cử, tổng cộng 11 người, chia làm 3 tốp. Mỗi tốp do một người dân tộc dẫn đường, đề phòng có ai mệt, cần ngồi nghỉ, vẫn có thể sát nhập tốp cuối cùng. Núi sừng sững, lau sậy cao lút đầu. Lá sậy sắc lẻm như ngàn lưỡi dao cứa tướp máu đôi cánh tay trần của ông Tiến. Dốc dựng đứng. Đầu người dưới trạm chân người leo phía trên. Không ai dám nhìn xuống vì độ cao chóng mặt. Vực sâu thăm thẳm. Mây xoà vào mặt, quấn quýt lấy thân người. Mồm miệng thi nhau thở. Hơi phì cả ra đằng tai. ì ạch vượt qua ngọn núi đầy lau lách lại thấy hiện lên trước mặt dốc núi một cánh rừng nguyên sinh. Đi theo một khe suối cạn, hai bên vách đá dốc ngược, cây cối um tùm. Bố A-mo bảo, con đường này dân bản chẳng ai dám đi, chỉ có thợ săn thú thỉnh thoảng mới bước chân vào nên cây dại mọc chằng chịt, vừa leo vừa phải dùng dao phát quang mở đường. Nhiều đoạn phải đi trên vách đá treo leo, một bên là sườn núi cao, một bên là vực thẳm. Rừng rậm đến mức không có nổi một tia nắng mặt trời xuyên qua được kẽ lá. Mặt đất ẩm ướt, đầy lá mục. Bước chân đến đâu, vắt ngóc đầu quăng mình rào rào đến đây. Chị Thắng bị mấy con bám vào bụng chân, sợ quá, khóc thét, vừa nhảy, vừa kêu la.

Ngược ngàn thang đá

Chừng hơn 3 tiếng sau, đoàn đặt chân đến một khu rừng có mấy cây cổ thụ, xung quanh được bao bọc bởi nhiều cây con và dây leo chằng chịt. Bố A-mo ngắm nghía một hồi rồi hạ lệnh dừng lại. Bố khoát tay chỉ, chính nơi này, sau những gốc cây kia, bố đã an táng liệt sĩ Dư. Hơn chục người lao vào phát quang bụi rậm, tạo thành một khoảng trống rộng để xác định  vị trí ngôi mộ nhưng tìm mãi chẳng thấy nấm đất nào. Nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy kiểm tra lại tín hiệu rồi khẳng định, mộ liệt sĩ Dư đúng ở chỗ gốc cây cụt. Ông Tiến vội bày lễ vật, hương hoa, nải quả lên trên gốc cây, thắp hương lầm rầm khấn. Chị Thắng, từ lúc lên, cứ ngồi phệt xuống đất khóc réo gọi bố. Sau khi làm xong thủ tục tâm linh, đoàn bắt đầu đào bới. Anh Đoàn – con trai cả của liệt sĩ, dưới sự chỉ dẫn của anh Bảy, là người bập nhát cuốc đầu tiên ở ngay gốc cây cụt, nơi vừa thắp hương, đằng sau gốc cây cổ thụ to nhất. Đây chính là cây mà bố A-mo đã đánh dấu trên thân cách đây 33 năm bằng cách dùng dao chặt tước vỏ. Nay, vết chém vẫn còn, dài khoảng 60 cm, rộng 30cm. Mọi người thay nhau đào. Đến 12 h trưa, hố đào đã được mở rộng 1,5m, sâu chừng 70cm mà vẫn chưa thấy dấu hiệu gì. Ông Tiến lo ra mặt, hỏi bố A-mo có nhớ nhầm không? Bố khẳng định chắc nịch: “Đúng ở cây to này mà. Nhưng tao không nhớ bên phải hay bên trái. Tao chôn bộ đội Dư trước, rồi chôn 3 cái dân sau mà”. Nói đoạn, bố tóm tay ông Tiến, dẫn đi cách cây cổ thụ chừng 10 m về bên trái, chỉ vào chỗ bụi cây rậm rạp: “Mộ 3 cái dân ở chỗ ấy đấy”. Ông Tiến vạch cành len vào trong thì nhìn thấy một nửa thân gỗ to, dài chừng 2m nằm trên mặt đất, lá rừng phủ dầy bên trên. Đồng chí Đức giải thích, người dân tộc Cà-tu mai táng người chết như thế. Họ xẻ thân cây gỗ làm hai mảnh. Sau đó đục rỗng rồi đặt người chết vào đó. Hố chôn sâu chừng 60cm, do đó nửa trên của thân cây vẫn nổi trên mặt đất.

Như vậy, vị trí bố A-mo xác định nơi mai táng liệt sĩ Vũ Duy Dư là chính xác nhưng sao đào mãi vẫn không thấy. Ông Tiến bàn với đồng chí Đức cho đào hố thứ hai dịch về phía bên phải cây cổ thụ, cách hố thứ nhất khoảng 4m. ở vị trí này cũng có một gốc cây cụt. Hố thứ hai đào rộng 1,5m, sâu 50 cm thì gặp một lớp đá ong. Bố A-mo bảo: “Không phải chỗ này rồi vì ngày xưa tao đào không gặp lớp đá như thế”. Ông Tiến nhờ nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy xin thêm tín hiệu tại hiện trường để xác định. Bảy bảo: “Để em thắp hương xin con ong chỉ dẫn”. Khoảng 5 phút sau, một con ong to bằng ngón tay út bỗng từ đâu vù đến, bay xung quanh mặt chị Thắng hai vòng rồi dừng lại, đậu vào trán chị. Chị Thắng sợ quá, mặt tái mét. Anh Bảy trấn an: “Cứ bình tĩnh, đừng sợ”. Nghe vậy, chị Thắng đứng yên, hai tay chắp trước ngực, miệng khấn xin bố chỉ dẫn. 30 giây sau, con ong rời khỏi trán chị Thắng, xà xuống, bay xung quanh nơi anh Bình đang nằm nghỉ vì mệt, cách miệng hố thứ nhất 40cm rồi bay thẳng vào rừng sâu.

Mặt trời đã ngả về Tây. Rừng rậm bắt đầu âm u. Nhìn đồng hồ đã 1h30′ chiều. Cả đoàn lo lắng. Nếu hôm nay không tìm thấy thì buộc lòng phải quay về bản vì không mang theo lương thực. Mà ngày mai lại tiếp tục lên tìm kiếm thì mọi người không đủ sức. Hôm nay leo núi đã oải quá rồi. Ông Tiến bàn với đồng chí Đức huyện đội và anh Bảy: “Tín hiệu con ong không cho biết rõ ràng nhưng cũng có xà xuống đất, bay quanh anh Bình nằm giữa hố 1 và 2. Theo tôi, chúng ta nên mở rộng hố 1 thêm 40 cm nữa về phía hố 2. Nếu vẫn không thấy thì đào một đường hào rộng 60 cm, sâu 60 cm, chạy dài từ hố 1 sang hố 2, cắt toàn bộ đằng sau cây cổ thụ. Vì thời gian không còn nhiều nữa”. Mọi người đều nhất trí, thay nhau đào. Anh Bảy ngồi xếp bằng, tay chắp trước ngực, lẩm bẩm khấn. Đột nhiên, anh nói: “Em vừa nhìn thấy một người con gái đứng đằng sau gốc cây kia. Anh Tiến ra xem nào”. Vừa nói, Bảy vừa chỉ vào cây cổ thụ phía đằng xa, cách chỗ mọi người đào chừng 15 m. Ông Tiến ngó nghiêng một hồi chẳng thấy gì. Anh Bảy lại nói: “Đấy, chị ấy vừa ló ra đấy. Chị ấy cắt tóc ngắn, mặc váy dân tộc mà. Anh ra xem có ngôi mộ nào ở đó không?”. Nghe vậy, bố A-mo bảo: “Có con A-lý chôn ở đấy”. Anh Bảy liền bước đến phía sau gốc cây to, thắp hương khấn: “Chị A-lý ơi! Tôi dân bản rất quý bộ đội Dư nên muốn giữ ở lại. Nhưng bộ đội Dư đã ở đây với dân bản, với chị A-lý hơn 30 năm rồi. Nay gia đình muốn xin dân bản cho đón bộ đội Dư về với ông bà, tổ tiên để thoả lòng thương nhớ. Chị A-lý linh thiêng hãy giúp đỡ phù hộ cho chúng tôi nhanh chóng tìm được bộ đội Dư chị nhé”.

Từ lúc mọi người tích cực đào bới, anh Đoàn cứ ngồi rũ ở gần mép hố 2. Anh Bảy đề nghị đào mở rộng hố 2 chỗ anh Đoàn ngồi. Vừa cuốc vài nhát, anh Đoàn reo lên: “Anh Tiến ơi! Hình như em thấy dây võng này”. Mọi người đổ xô vào. Bảy nhảy xuống hố, dùng tay khẽ bới. Sợi dây dù lộ dần ra. “Chính xác rồi”. Bảy nói to, giọng reo vui. “Chiếc võng ngày xưa làm bằng vải Tô Châu nên mặc dầu vùi sâu dưới đất hơn 30 năm nhưng những sợi ny-lon và dây dù buộc quanh đầu võng vẫn còn”.

Sau khi xác định được hướng nằm của chiếc võng, mọi người nhẹ nhàng đào rộng và dài dần ra. Có một sự trùng hợp đặc biệt là hướng chiếc võng đặt đúng vị trí anh Bình nằm nghỉ khi con ong xà xuống bay xung quanh. Điều đó, chứng tỏ rằng liệt sĩ đã nhận được lời cầu khẩn và sai linh vật hỗ trợ. Đặc biệt thứ hai là ông Tiến và anh Đức, lúc đầu,  đào đúng vị trí chiếc võng mà không thấy. Chỉ đến khi anh Đoàn, con trai cả của liệt sĩ, xới thêm chừng 4 cm thì thấy. Như vậy, vấn đề huyết thống trong tâm linh rất quan trọng.

Tất cả đoàn đều thở phào nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng. Đồng hồ đã chỉ 14h30′. Mọi người vội vã tập trung tìm kiếm hài cốt và kỷ vật của liệt sĩ. Đúng như tín hiệu anh Bảy đã báo trước ở Hà Nội, do mai táng trong rừng rậm, đất ẩm nên hài cốt không còn nhiều. Những chiếc khuy áo, nắp hộp thuốc mỡ dạng tuýp, một tấm vải dù đùng để nguỵ trang khi hành quân còn nguyên vẹn đã ngả sang màu vàng nhạt. Tất cả được gom lại, niệm trong miếng vải màu lá cờ tổ quốc rồi trang trọng đặt trong ba lô. Đoàn xuống núi.

23h ngày 4 tháng 3 năm 2002, chiếc xe ô tô trở di hài của liệt sĩ Vũ Duy Dư đã về tới thôn Đại Từ, xã Đại Kim, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Mặc dầu trời đã khuya song nhân dân địa phương vẫn tập trung rất đông để đón đứa con của quê hương trở về sau 33 năm xa cách. Sáng ngày 5 tháng 3, lễ truy điệu liệt sĩ đã được huyện đội Thanh Trì, hội cựu chiến binh, các ban ngành địa phương cùng gia đình cử hành trang trọng. Hài cốt liệt sĩ đã được mai táng tại nghĩa trang quê nhà.

Mộ liệt sĩ Nguyễn Duy Dư tại nghĩa trang huyện Thanh Trì

Cuộc trò chuyên giữa tác giả và ông Trần Tích Tiến:

PV: Là người theo suốt cuộc hành trình đi tìm mộ liệt sĩ Vũ Duy Dư, ông có nhận xét gì về tấm sơ đồ và những thông tin, tín hiệu mà nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy đã cung cấp tại Hà Nội?

Ông Trần Tích Tiến: Sơ đồ vẽ đẹp, rõ ràng từng khu vực, từ đồi núi, sông suối, ruộng nương, bản làng… Có thể nói, tín hiệu được xác lập từ Hà Nội, qua thực địa, chính xác đến 90%. Chính nhờ tín hiệu này mà đoàn tìm kiếm đã đạt kết quả tốt trong thời gian rất ngắn. Cụ thể:

1. Mộ liệt sĩ Vũ Duy Dư mai táng tại bản A-diu, huyện Hiên (Quảng Ngãi). Địa danh này hoàn toàn chính xác.

2. Bản A-diu có ông Lai, ông Luật, ông Hạo biết thông tin về phần mộ liệt sĩ.

3. Có điểm cao 463. Và thực tế, mộ liệt sĩ đã nằm trên đỉnh của điểm cao.

4. Liệt sĩ hy sinh ngày 14 tháng 10 năm 1969. Về thông tin này, tôi cho là chính xác. Vì theo giấy báo tử, liệt sĩ Dư hy sinh ngày 15 tháng 3 năm 1975 tại mặt trận phía Nam nhưng sau khi xác minh nhân chứng là bố A-mo, người trực tiếp mai táng liệt sĩ , bố khẳng định liệt sĩ mất khoảng cuối năm 1969.

PV: Vậy còn những thông tin chưa chính xác?

Ông Trần Tích Tiến: Thứ nhất, là thông tin về sự hy sinh của liệt sĩ. Nhà ngoại cảm cho biết: trong lúc đang cứu chữa bệnh nhân trong một lán trại, do máy bay địch oanh tạc, chiếc lán bị sập. Y sĩ Vũ Duy Dư đã hy sinh. Nhưng khi gặp bố A-mo và một số người già bản A-diu, được biết, liệt sĩ Dư bị thương, khi đơn vị chuyển quân đã để lại nhờ bản chăm sóc. Trong thời gian ở lại bản, thấy dân bản bị sốt rét nhiều quá, y sĩ Dư đã cấp phát thuốc chữa bệnh cho dân. Khi y sĩ Dư bị sốt rét thì hết thuốc nên đã mất. Chính vì nghĩa cử cao đẹp này mà đồng bào rất biết ơn liệt sĩ.

Thứ hai, trong mộ liệt sĩ có bát cơm cúng hoá thạch, có lọ thuốc ký ninh bên trong đựng tờ giấy mờ hết chữ. Trong túi áo bên trái còn hộp dầu con hổ. Tại thực địa, khi khai quật mộ, không thấy những thứ đó. Chỉ có tuýp thuốc mỡ, mảnh vải dù được gấp gọn gàng dưới phần đầu của liệt sĩ.

Kỳ 7: 84 năm đi tìm mộ người anh hùng Lương Ngọc Quyến

Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Kỳ 5: Tìm mộ liệt sĩ qua…vong một thai nhi 3 tháng tuổi

“Lúc đầu, nghe cô đồng Tuyên ở thị trấn Thứa (Bắc Ninh) gọi tôi là bố và xưng con, tôi ngơ ngác không hiểu gì. Sau mới vỡ lẽ, vong của con trai tôi về và nhập vào cô. Cháu vốn là một… thai nhi mới 3 tháng tuổi. Những năm 80, vợ tôi mang thai cháu là thứ 3 nhưng do chính sách kế hoạch hoá gia đình nên đã nạo bỏ cháu ở nhà hộ sinh. Tôi đâu có biết là mình đã đánh mất cháu, chỉ đến khi tôi hỏi cháu mới kể như vậy. Thú thực, lúc ấy tôi xúc động quá, cả ân hận nữa. Tôi xin lỗi cháu nhưng cháu cười bảo: cha mẹ không có lỗi vì đấy là qui định của nhà nước. Tôi khóc oà lên. Ôi! Không ngờ một đứa trẻ mà lại có những suy nghĩ và tấm lòng bao dung đến vậy”. Câu chuyện về hành trình leo núi ngược ngàn đi tìm mộ liệt sĩ Vũ Duy Dư trên điểm cao 463 ở bản Adiu (Quảng Nam) đã được ông Trần Tích Tiến, Phó tổng giám đốc công ty cao su INOUE mở đầu như vậy. Ông nói, giọng nghèn nghẹn: “Điều bất ngờ là chính cháu đã vẽ đường đi nước bước cho chúng tôi đi tìm mộ và cuối cùng, chúng tôi đã tìm thấy”. Câu chuyện ông Tiến kể trong đêm mưa dầm sùi sụt ấy cứ bị ngắt quãng bởi những giọt nước mắt và tiếng nấc nghẹn ngào.

Từ sự chỉ dẫn của vong… thai nhi 3 tháng tuổi

Ông Trần Tích Tiến đang lần giở từng bức ảnh

của cuộc hành trình tìm kiếm hài cốt LS Vũ Duy Dư.

Ông Trần Tích Tiến, thực ra, không có quan hệ máu mủ, ruột thịt gì với liệt sĩ Vũ Duy Dư. Ông chỉ là chỗ quan hệ thân tình với gia đình con gái út của liệt sĩ: chị Vũ Thị Thắng và anh Nguyễn Văn Thành. Song, đúng như lời giới thiệu của chị Thắng: “Anh muốn tìm hiểu kỹ về chuyện đi tìm mộ bố em thì phải gặp anh Tiến, vì anh ấy lưu giữ được đầy đủ tư liệu về chuyến đi này. Anh Tiến có tâm với gia đình các liệt sĩ nhiều lắm. Nếu không có anh ấy, chắc giờ này bố em vẫn nằm giãi dầu sương gió trên đỉnh núi Adiu”.

Chị Thắng kể: Cha chị sinh hạ được 3 người con. Anh cả là Vũ Duy Đoàn, anh thứ là Vũ Duy Kết. Chị là con gái út. Năm 1968, chiến trường miền Nam nổ ra ác liệt, cha lên đường nhập ngũ, rồi đi biệt không về. Không một lá thư, không một lời nhắn gửi. Cả nhà ngóng đợi. Đến tận năm 1975, đất nước hát khúc khải hoàn ca, đồng đội của cha náo nức trở về mà cha vẫn biệt vô âm tín. Đi dò hỏi, đồng đội của cha bảo: Năm 1968, các bác thỉnh thoảng gặp cha đi lấy gạo ở Adiu (Quảng Nam) nhưng về sau thì không gặp nữa. Không biết cha chuyển đi nơi khác hay đã hy sinh rồi. Các bác còn dặn thêm: Nếu hy sinh thì chỉ ở Adiu thôi.

Niềm hy vọng cứ mỏng dần theo năm tháng. Rồi một hôm, người của huyện đội Thanh Trì đến nhà chị cùng tin sét đánh: Cha đã hy sinh ở chiến trường miền Nam. Mẹ chị chết lặng. Còn mấy anh em thì ôm nhau khóc ầm lên. Khổ thân cha! Ra đi không để lại một kỷ vật gì. Mẹ lặng lẽ lập bát hương thờ cha. Giấy báo tử ghi cha hy sinh ngày 15 tháng 3 năm 1975. Mẹ lấy đó làm ngày giỗ. Ngày ấy nhà chị nghèo quá, thường phải ăn rau cháo trừ bữa. Mẹ tảo tần nuôi ba đứa con ăn học.

Mãi sau này, khi kinh tế gia đình bớt khó khăn, thấy nhiều gia đình vào miền Nam tìm mộ thân nhân, được Bộ và Sở lao động thương binh xã hội cấp giấy đi tìm, khát vọng tìm mộ cha trong chị Thắng chợt trỗi dậy. Nhân ngày giỗ cha, chị bàn với gia đình, cô gì chú bác nhưng mọi người gạt đi. Họ bảo: Giấy báo tử chỉ ghi vỏn vẹn là hy sinh ở chiến trường miền Nam mà miền Nam thì rộng lớn như vậy, biết mộ cha chỗ nào mà tìm. Không nản lòng, vợ chồng chị bàn riêng với anh Đoàn quyết tâm làm một chuyến vào tận bản Adiu tìm cha.

Vào một ngày cuối tháng 8 năm 2000, anh Đoàn cùng một người bạn khoác ba lô lên tàu vào Đà Nẵng. Hỏi thăm, được biết bản Adiu thuộc huyện Hiên, tỉnh Quảng Nam, cách Đà Nẵng chừng 100km. Nghỉ một đêm tại Đà Nẵng, sáng sớm hôm sau, hai anh em bắt xe vào huyện Hiên. Mặc dầu được các đồng chí phòng lao động thương binh và xã hội huyện Hiên tận tình giúp đỡ, kiểm tra toàn bộ danh sách liệt sĩ đã được quy tập về nghĩa trang nhưng không thấy tên liệt sĩ Vũ Duy Dư. Anh Đoàn quyết định thuê xe ôm vào bản Adiu. Khổ thân anh! Đường lên Adiu quá nhiều đèo dốc hiểm trở, lại đúng vào mùa mưa Tây Nguyên nên đi chừng 7 – 8 km, buộc lòng phải quay lại.

Niềm hy vọng tìm thấy cha bị rơi rụng nhưng đêm đêm, nỗi day trở cứ cắn rứt lương tâm chị Thắng khiến chị không yên. Nhiều lần, chị khóc với bạn bè rằng: Cha đi chinh chiến khi chị vừa tròn 2 tuổi. Kỷ niệm về cha không có nhiều. Khuôn mặt cha chị cũng không còn nhớ. Nhưng đời này, kiếp này, nếu không tìm được mộ cha, chị là đứa con bất hiếu. Là người đã từng xông pha trận mạc, tận tay chôn cất những mảnh thi hài còn sót lại của đồng đội ở chiến trường miền tây Nam bộ, ông Trần Tích Tiến rất hiểu và cảm thông với nỗi niềm của chị Thắng. Lòng tự nhủ, bằng mọi cách phải giúp Thắng làm tròn được tâm nguyện. Làm phó tổng giám đốc công ty cao su INOUE, ông Tiến có điều kiện đi đây đó nhiều. Đến đâu, ông cũng tranh thủ đến các nghĩa trang liệt sĩ để tìm mộ liệt sĩ Vũ Duy Dư, bày tỏ nỗi niềm cùng những người bạn tâm đắc mong có sự trợ giúp.

Ngày 24 tháng 2 năm 2002, nhờ sự đưa đường của anh Thắng ở phố Lò Rèn (Hà Nội), ông Tiến cùng vợ chồng chị Thắng, anh Thành đã xuống nhà cô đồng Tuyên ở thị trấn Thứa, Bắc Ninh để gọi hồn liệt sĩ Vũ Duy Dư. Vừa đặt chút lễ mọn lên bàn thờ, chưa kịp ngồi yên vị, ông Tiến đã giật nảy mình khi nghe cô đồng Tuyên gọi ông là “bố Tiến” và xưng con. Qua trò chuyện, ông mới biết đó là vong của thai nhi 3 tháng tuổi mà vợ ông đã nạo bỏ ở nhà hộ sinh cách đó gần 20 năm. Càng nói chuyện, ông Tiến càng bị xúc động vì những thông tin cháu nói (qua cô đồng Tuyên) rất chính xác, kể cả những chuyện rất riêng tư, bí mật chỉ mình ông biết. Ông Tiến hỏi: “Thế con có biết ai đang ngồi cạnh bố không?”. Cháu bảo: “Chú Thành, bạn bố, nhà ở 509 đường Nguyễn Văn Cừ, Gia Lâm, Hà Nội chứ gì? Vợ chú đang muốn tìm mộ bố là liệt sĩ có đúng không? Hồi Tết, chú đến nhà cháu chơi mà không mừng tuổi cho cháu đấy nhé”. Cháu còn nói tên những người hàng xóm cạnh nhà “bố Tiến”, nhận xét người này tốt, người kia xấu, rồi căn dặn ông nên quan hệ với người này, cảnh giác với người kia”. Ông Tiến bảo: “Con giúp vợ chồng cô Thắng tìm được mộ ông nhé”. Cháu cười bảo: “Cô chú sẽ tìm được. Gần tìm được rồi. Bố cứ đến nhà chú Bảy (nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy) ở phòng 212, nhà B19, khu tập thể Kim Liên và ông Chu Phác (thiếu tướng Chu Phác – chủ nhiệm Bộ môn cận tâm lý, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người) là tìm được thôi mà”.

…đến sơ đồ của nhà ngoại cảm

Nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy đang vẽ sơ đồ

Đúng như sự chỉ dẫn của vong thai nhi 3 tháng tuổi, gia đình chị Thắng đã tìm đến phòng số 212, nhà B19, khu Tập thể Kim Liên (Hà Nội) và gặp được nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy. Đó là căn phòng chật hẹp chừng 18m2 nhưng mọi thứ bày biện gọn gàng, ngăn nắp. Sau khi đặt lễ lên bàn thờ, nơi treo ảnh Bác Hồ kính yêu, nhà ngoại cảm mời chị Thắng ngồi trước mặt. Anh hỏi thăm về gia đình chị, về người cha liệt sĩ rồi bảo: “Chị yên tâm! Sẽ tìm được cụ. Nhưng chị có anh trai hoặc em trai không? Nếu có thì gọi đến đây để kết hợp xem sẽ tốt hơn. Bởi đây là vấn đề tâm linh mang tính huyết thống. Thông thường, ở vợ và con trai liệt sĩ thể hiện rõ hơn song phải là những người có tâm, luôn tưởng nhớ tới người đã mất”. Nghe vậy, chị Thắng liền gọi điện cho anh trai cả Vũ Duy Đoàn.

Khi anh Đoàn và chị Thắng ngồi ngay ngắn, nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy bảo hai người vén tóc lên cho gọn gàng rồi chăm chú nhìn vào trán họ. Anh hỏi chị Thắng: “Cụ hy sinh năm nào? Giấy báo tử ghi thế nào?”. Chị Thắng sụt sịt: “Em cũng không biết cụ thể. Chỉ thấy trong giấy báo tử ghi bố em mất ngày 15 tháng 3 năm 1975 tại mặt trận phía Nam thôi và gia đình lấy ngày đó để làm giỗ cho cụ”. Nghe xong, anh Bảy chắp hai tay trước ngực, mặt hướng lên bàn thờ Bác Hồ một cách thành kính, miệng khấn lầm rầm. Chừng 5 phút sau, anh quay sang chị Thắng nói: “Cụ về rồi đấy chị ạ!”. Nói đoạn, anh lấy tờ giấy trắng khổ A3 cùng hộp bút màu bày ra trước mặt rồi lại chăm chú nhìn lên trán hai người. “Thấy rồi. Có mộ anh chị ạ! Mộ chưa quy tập”. Tay vẽ, miệng anh thuyết minh: Đây là dãy núi. Đi qua chiếc cầu bằng cây bắc qua con suối. Đây là đường mòn nhỏ đơn vị hay đi lấy gạo. Cụ không phải mất ngày 15 tháng 3 năm 1975 đâu chị ạ. Chị ghi lại đi. Cụ mất ngày 14 tháng 10 năm 1969 âm lịch ở bản Adiu cơ. Giấy báo tử ghi sai. Nhiều trường hợp như thế này lắm. Giấy báo tử thời chống Pháp ghi chi tiết chứ không như thế này.

Mọi người nhìn vào sơ đồ thấy núi non trùng điệp, ruộng lúa bậc thang, cỏ cây ngút ngàn. Có cầu bắc qua sông, qua suối. (Xem ảnh).


Vẽ xong sơ đồ, anh Bảy bắt đầu điền các ký hiệu, trong đó có cao điểm 463, nơi trạm trung phẫu của đơn vị. Đang cắm cúi viết, nhà ngoại cảm bất chợt dừng bút hỏi: “Anh Tiến này. Em nghe thấy cụ nói điểm cao 463. Không hiểu ở chiến trường, người ta có gọi như thế không nhỉ?”. Ông Tiến bảo: “Có đấy. Điểm cao là quả đồi hay ngọn núi cao nhất. Người ta đặt cho nó một cái tên để phân biệt với những ngọn núi khác. Thông thường, những con số đặt cho điểm cao là chiều cao của ngọn núi. Song cũng có thể chỉ là mã số trong bản đồ quân sự”. Nhà ngoại cảm bảo: “Em nghe không rõ, chỉ thấy cụ nói điểm cao 463 thì điền vào chứ thực tình em không hiểu. Em nghe thấy gì thì ghi vào để lấy tín hiệu. Càng nhiều tín hiệu thì khi tìm càng dễ”. Ngừng lời, anh Bảy lại chăm chú lắng nghe và tiếp tục ghi chép, miệng lẩm bẩm: ông Lai, ông Luật, anh Hạo ở thôn 1, bản Adiu là những người trước kia thường xuyên gặp cụ. Ông Lai có nước da ngăm đen, hàm trên rụng hết không còn một chiếc răng nào. Cứ thế, anh viết lên tấm sơ đồ đã vẽ xong. Cuối cùng, anh khoanh tròn một chấm đen rồi kẻ một đường mũi tên ra ngoài khoảng trống, ghi: phần mộ liệt sĩ Vũ Duy Dư. Anh chấm ba nốt tròn nữa cạnh mộ liệt sĩ rồi cũng ghi chú là 3 ngôi mộ của dân địa phương phía sau. Ngẩng đầu lên, anh Bảy bảo: “Thế là đã rõ rồi. Em chỉ băn khoăn một điều là sao lại có mỗi một mộ liệt sĩ ở đây. Hay những người khác quy tập rồi sót cụ ở lại?”. Ông Tiến hỏi: “Có chắc chắn không? Bảy cố gắng hỏi lại cụ xem”. “Để lát nữa anh ạ. Nếu có thêm tín hiệu em sẽ tiếp tục ghi. Anh chị cứ yên tâm, em sẽ làm hết sức chi tiết cho gia đình”. Chiêu một ngụm nước, anh Bảy chậm rãi nói: “Anh ạ! Bản đồ thế này là rõ lắm rồi”. Vừa nói, Bảy vừa lấy tờ giấy trắng khác tiếp tục ghi chép những thông tin mới. “Mộ cụ chôn ngay gần đường mòn mà đơn vị vẫn đi lấy gạo qua. Đồng đội của cụ có đánh dấu một tảng đá to cạnh đấy. Mộ ở cạnh một gốc cây cụt. Cốt còn nhưng ít lắm. Có một bát cơm đã hoá thạch, một lọ thuốc ký ninh, bên trong là tờ giấy ghi địa chỉ nhưng mờ hết rồi. Có hộp dầu cao hổ đút ở túi ngực. Cụ không phải hy sinh trong trận đánh đâu. Cụ là bác sĩ phải không ạ?”. Chị Thắng ngồi bên trả lời: “Vâng! Bố em ở nhà là y sĩ”. Anh Bảy bảo: “ừ! Đúng rồi. Cụ mất lúc 14h. Khi đang mổ cho thương binh thì có một vệt sáng từ máy bay lao xuống làm sập cái nhà phẫu. Chỉ có mình cụ mất thôi. Cạnh cụ còn có chị Lý là y tá vẫn sống, quê ở Quảng Trị và hai người nữa”. Anh Bảy ngừng viết, nhìn kỹ vào khuôn mặt anh Đoàn, chị Thắng, bảo: “Em nhìn thấy cụ rồi. Cụ giống chị, trắng, cao chứ không giống anh Đoàn có đúng không?”. Cả hai anh em đều gật đầu xác nhận đúng. Chừng hơn một tiếng đồng hồ, tấm sơ đồ được vẽ xong. Ông Tiến hỏi thêm, nếu gia đình đi tìm theo sơ đồ này thì cần phải làm những thủ tục gì? Bảy bảo: “Tốt nhất trước khi đi, gia đình gọi điện báo cho em biết, em sẽ hướng dẫn cho. Em vẫn chỉ dẫn qua điện thoại cho nhiều gia đình mà kết quả vẫn tốt”. Là người đã từng sống và chiến đấu trong chiến trường nên khi nhìn tấm bản đồ, ông Tiến biết việc đi tìm chẳng đơn giản chút nào. Ông tha thiết đề nghị anh Bảy bớt chút thời giờ đi cùng đoàn. Thật may, anh Bảy nhận lời. Cả nhà đều vui mừng, nhất là chị Thắng, mặt mũi rạng rỡ hẳn lên. Trên đường về nhà, chị luôn miệng trầm trồ, xuýt xoa: “Lạ nhỉ?! Không hiểu tại sao anh ấy lại biết rõ thế nhỉ?”. Từ hôm ấy, tất cả ráo riết chuẩn bị chờ ngày lên đường tìm cha.

Kỳ 6: Ngược ngàn thang đá lên bản Adiu

Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Kỳ 4:  Vượt ngàn trùng sóng … tìm cha

Cho đến tận bây giờ, khi nấm mồ của người cha thân yêu đã xanh rì cỏ mọc và câu chuyện đầy ly kỳ, huyền hoặc về hành trình vượt muôn trùng sóng nước tìm cha ở đảo Hòn Mê (Thanh Hoá) của ông Trần Văn Mắc đã bớt xôn xao trên những con phố nhỏ, ông vẫn không thể tin nổi rằng, có một ngày, ông lại có thể tìm thấy hài cốt của người cha bị mất tích trong cơn bão biển sau 17 năm sống trong vô vọng. Càng không thể tin nổi, người vẽ đường và giúp ông tìm cha là một người hoàn toàn xa lạ, chẳng có máu mủ hay quan hệ thân tình gì với gia đình ông, chẳng biết gì về trận bão khủng khiếp năm ấy và cũng chưa một lần đặt chân ra đảo Hòn Mê. Ngồi tít tận Hà Nội vẽ sơ đồ chỉ dẫn chi tiết, lạ kỳ thay, hành trình tìm kiếm đều diễn ra đúng như có sự sắp đặt của bàn tay tạo hoá. Một ngày cuối tháng 8 năm 2006, ngồi kể cho tôi nghe toàn bộ câu chuyện ly kỳ ấy tại nhà riêng ở ngõ 33 Kỳ Đồng, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, ông Trần Văn Mắc miệng không ngớt xuýt xoa: “Thần bí lắm! Huyền hoặc lắm! Đến mức nhiều khi không thể tin nổi. Cứ y như trong Liêu trai chí dị ấy”. Rồi giơ cánh tay chắc lẳn ra trước mặt tôi, ông thì thào: “Đấy, cứ nhắc đến chuyện ấy là tôi lại nổi hết da gà lên đây này”.

Cơn bão tang thương năm 1985 và cuộc gặp gỡ nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy

Ông Trần Văn Mắc tại nhà riêng ở Hải Phòng

Ngày 20 tháng 10 năm 1985 sẽ mãi mãi đi vào lịch sử thôn Lương Khê, xã Tráng Cát, huyện An Hải (Hải Phòng), quê của ông Trần Văn Mắc. Bởi đó là một ngày buồn đau thê lương nhất. Cơn bão cuối năm với gió giật cấp 6, cấp 7 đã nuốt chìm 4 chiếc thuyền đánh cá ngoài biển khơi, vĩnh viễn cướp đi riêng của thôn Lương Khê 13 người. Ông Mắc đau đớn nhất. Mất liền một lúc 3 người thân: cha (ông Trần Văn Mặc), em út Trần Văn Sùng mới 12 tuổi và em rể Trần Văn Dũng. Em Trần Văn Sùng lần đầu tiên theo cha ra biển chơi và đó cũng là lần cuối cùng trong đời.

Ròng rã suốt nửa tháng trời, gia đình ông Mắc cứ đội mưa dầm gió bấc, đi suốt dòng đục bến trong để tìm xác 3 người xấu số mà chỉ thấy muôn trùng sóng nước mịt mù nỗi u hoài thê lương. Ông Mắc vẫn đi, đi mãi. Đến tận mũi Cồn Mòi (vùng biển tỉnh Thái Bình) thì vớt được xác chiếc thuyền của cha.

Thấm thoắt 17 năm trôi qua. Hy vọng tìm thấy thi hài cha và các em đã trở nên vô vọng. Mẹ thì mỗi năm một già yếu mà nỗi nhớ chồng con cứ day dứt khôn nguôi. Nhiều lần, mẹ níu tay Mắc mà khóc rằng: “Con ơi! Bằng mọi giá phải tìm được bố và em. Dù chỉ là một mẩu xương khô cũng được. Nếu không, mẹ chết không nhắm được mắt đâu con ơi!”. Thương mẹ đứt ruột nhưng biết tìm cha ở đâu bây giờ?

Một ngày đầu tháng 5 năm 2002, trong một lần gặp gỡ ông Trần Tích Tiến, phó tổng giám đốc Công ty cao su INQUE Việt Nam, ông Mắc đã đem nỗi lòng u uẩn của mình ra giãi bày. Không ngờ, nghe chuyện xong, ông Tiến cười bảo: “Anh yên tâm! Tôi sẽ giúp anh tìm được mộ cụ”. Ông Mắc ngạc nhiên hỏi: “Bằng cách nào, thưa anh?!”. Ông Tiến bảo: “Tôi vừa nhờ nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy giúp cho bạn tôi tìm được mộ bố là liệt sĩ Vũ Duy Dư, chôn tít trên đỉnh núi bản Adiu, vùng sâu xa nhất của Đà Nẵng. Chuyện ly kỳ lắm. (Chuyện đi tìm mộ liệt sĩ Vũ Duy Dư, chúng tôi sẽ kể chi tiết ở phần sau – PV). Anh hãy tin tôi đi”. Nụ cười ấm áp và cái bắt tay xiết chặt của ông Tiến khiến ông Mắc lòng khấp khởi mừng mà vẫn thấy lo lo. Bố và em chết ngoài biển cả. Biết trôi dạt nơi nào? Mười bảy năm rồi còn gì. Thời gian quá dài đủ để xoá đi tất cả những gì gọi là dấu vết còn lại.

Đêm ấy, về đến nhà, ông Mắc kể lại toàn bộ câu chuyện gặp gỡ ông Tiến hồi sáng cho mẹ và vợ nghe. Mẹ nghe xong khóc ầm lên, vừa khóc vừa giục ông Mắc đi gặp nhà ngoại cảm sớm. Vợ ông, bà Phan Thị Trinh thì bảo: “Em cứ thấy hoang đường thế nào ấy. Chả tin được. Ông Nguyễn Khắc Bảy có hoạ là thánh mới làm được như thế. Nhưng thôi, chiều mẹ, mình cứ đi. Được thì nhất. Không được cũng chẳng mất gì”.

Quyết định như thế nhưng mãi đến đầu tháng 10, ông Mắc mới có cuộc gặp gỡ với nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy. Ông Mắc kể lại: “Nhìn thấy Bảy, tôi hoàn toàn bất ngờ. Bảy cao, gầy, thư sinh, ăn nói nhỏ nhẹ, hoàn toàn trái ngược với các ông đồng bà cốt tôi vẫn thường gặp ngoài đời. Sau một hồi nhìn chằm chặp vào chán tôi, Bảy reo nhỏ: “Thấy cụ rồi anh ạ!” rồi vội vàng lôi tờ giấy A3 đặt lên mặt bàn. Miệng nói, mắt nhìn chán tôi, tay vẽ. Bảy đưa các thông tin:

1. Bố tôi bị cá ăn mất bàn chân phải.

2. Bố tôi có mộ vì xác trôi dạt vào đảo Hòn Mê (Tĩnh Gia, Thanh Hoá), được bộ đội vớt lên an táng.

3. Mộ nằm trong một cụm gồm 6 ngôi nằm ở phía Đông Bắc của đảo Hòn Mê, trên một vùng đất thấp, giữa một khe nước và hai lối đi nhỏ của bộ đội.

4. Trong 6 ngôi thì có 2 ngôi nằm song song, 2 ngôi nằm chèn ngang. Anh Dũng nằm ở ngôi thứ 3. Bố tôi nằm ở ngôi thứ nhất, cách mép nước khoảng 37m, cách khu bộ đội A9 khoảng 150m. Em ruột tôi là Trần Văn Sùng không có ở đây.

5. Những người đã mai táng bố tôi và anh Dũng là các anh bộ đội trên đảo, trong đó có các anh tên là: Định, Tuấn, Bính, Ngơi…

Sơ đồ Bảy vẽ khá chi tiết, chữ viết rõ ràng, rành mạch. (Xem ảnh).

Viết xong, Bảy đưa cho tôi, bảo: “Anh cứ dựa vào sơ đồ này, thể nào cũng tìm thấy bác và anh Dũng”. Thú thực, lúc đó đầu tôi cứ mụ đi. Người cứ như nửa tỉnh nửa mê. Nhưng tiễn Bảy về rồi mà lòng vẫn cứ bán tín bán nghi. Tôi bèn nhờ các anh công nhân bên Bảo hiểm hàng hải và Nhà Đèn xác minh hộ. Thông tin nhận được thật bất ngờ: Phía Đông Bắc đảo Hòn Mê đúng là có 6 ngôi mộ của dân, trong đó có những người chết trong trận bão tháng 10 năm 1985 được bộ đội vớt lên an táng”.

Thông tin phản hồi ấy như ánh nắng mặt trời xoá tan đám mây nghi ngờ u ám vốn bao phủ trong đầu vợ chồng ông Mặc bấy lâu. Gia đình ông vội vàng chuẩn bị và làm các thủ tục xin ra đảo Hòn Mê vì đây là hòn đảo quân sự, không có dân cư ở.

Lần thứ nhất ra đảo: Đào mộ nhầm và 2 cuộc báo mộng kỳ lạ

Tối ngày 5 tháng 11 năm 2002, gia đình ông Mắc gồm 7 người cùng nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy và bà Quan Lệ Lan, cán bộ nghiên cứu của Bộ môn cận tâm lý (Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người) rời Hà Nội trên chiếc xe Toyota 14 chỗ tiến thẳng về huyện Tĩnh Gia (Thanh Hoá). Mất một ngày để lo các thủ tục. Sáng sớm hôm sau, đoàn thuê một chiếc tàu đánh cá ra đảo Hòn Mê. Được anh em chiến sĩ trên đảo đón tiếp nhiệt tình, ông Mắc cũng cảm thấy yên tâm phần nào. Tới phía Đông Bắc của đảo, cả đoàn sững người. Trong mờ mịt sương giăng, 6 ngôi mộ lần lượt hiện ra. Hai bên là khe nước và lối đi. Ông Mắc vội vàng lấy thước dây ra đo. Từ mép nước đến ngôi mộ thứ nhất đúng gần 38m. Ông giật mình, chân tay cứ run bắn lên. Những thông tin anh Bảy đưa ra đã trùng khớp với địa hình, địa vật ở đây.

Di ảnh ông Trần Văn Mặc

Cả 6 ngôi mộ đều được vun đắp cao ráo, chắc chắn, sạch sẽ. Bởi ngày rằm và mồng một, tháng đều đặn 2 lần, anh em bộ đội trên đảo hương khói chu toàn. Sau khi dâng lễ cúng thần linh, đoàn chuẩn bị khai quật ngôi mộ thứ nhất và thứ 3 (theo sơ đồ thì đó là mộ của bố anh Mắc và anh Dũng) thì bất ngờ, nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy bảo: “Không! Nhầm rồi. Nhầm rồi. Đào ngôi thứ 4 và thứ 2 mới đúng”. Thầy bảo sao thì nghe vậy. Gia đình ông Mắc và các chiến sĩ ở đảo nhanh chóng khai quật. “ối giời! Các ông đào nhầm mồ mả người khác rồi”. Bà Trinh hét toáng lên. Cả đoàn tá hoả. “Toàn hài cốt phụ nữ đây này”. Miệng nói, tay bà run run cầm 2 chiếc vòng tránh thai giơ lên cho cả đoàn xem. Cả đoàn chết lặng. “Đây nữa, quần áo, khăn sống vẫn còn nguyên đây này”. Giời ạ! Đúng là toàn quần áo phụ nữ. Vì khi an táng, thi hài được bọc trong những tấm tăng dày nên xương cốt, trang phục còn nguyên vẹn. Bà Trinh khóc ầm lên vì sợ hãi. Mọi người cuống cuồng vùi lấp lại, rồi làm lễ tạ tội. Nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy thành kính thắp hương mời vong người đàn bà xấu số lên nói chuyện. Chị cho biết tên là Vân, cũng bị chết biển trong trận bão năm 1985. Có lẽ, vong linh của chị thiêng quá nên đã “ốp” vào nhà ngoại cảm, buộc anh chỉ nhầm. Đang thực hiện cuộc trò chuyện bỗng đâu mây đen ùn ùn kéo tới. Gió ràn rạt thổi. Anh Bảy giục cuống cả lên. Anh bảo: “Bác Mặc đang hò hét tôi đưa các anh chị vào đất liền sớm kẻo bão”. Ngay chiều hôm ấy, cả đoàn rời đảo. Về đến thành phố Thanh Hoá thì mưa giông chớp giật. Cả đoàn hoàn hồn.

Trên đường ra Hà Nội, đoàn ghé thăm ông Trúc, nguyên đảo phó đảo Hòn Mê những năm 1980. Không hề hay biết gì về sơ đồ anh Bảy đã vẽ ở Hà Nội, ông Trúc nhiệt tình kể: Tháng 10 năm 1985, có 4 xác người chết dạt vào bờ. Anh Tuấn quân y được lệnh đi vớt và chôn cất. Sau đó, anh Tuấn về báo cáo lại, có một người đàn ông to lớn cao tuổi nhất bị cá ăn mất bàn chân phải. Xác ông cứ dập dềnh ngoài biển. Anh em bộ đội phải quăng dây câu để kéo vào thì xác lại vướng đá ngầm, không kéo vào được. Cuối cùng, anh Tuấn phải khấn xin rằng anh em sẽ an táng chu đáo, mới đưa được xác ông vào. Nghe chuyện, ông Mắc khóc oà. Người đàn ông luống tuổi cao lớn ấy đúng là bố rồi. Năm 1985, bố ông vừa tròn 51 tuổi, sức khoẻ tráng kiện, nổi tiếng cả làng chài về tài đạp sóng, vượt gió. Nếu không vì cậu con trai Trần Văn Sùng 12 tuổi, có lẽ ông không thể chết đuối được. Và phải chăng, vì không thấy xác con nên xác ông cứ nấn ná ngoài biển cả?

Những điều ông Trúc kể càng thắp thêm niềm tin, hy vọng tìm thấy hài cốt cha trong ông Mặc. Ông quyết tâm quay lại đảo vào một ngày gần nhất.

Có hai điều vô cùng huyền bí mà đến tận bây giờ, ông Mắc vẫn không thể nào lý giải được. Chuyện là, khi về đến nhà, đã thấy người mẹ già nước mắt vắn dài, bảo: “Đào nhầm mộ bố rồi phải không?”. Cả đoàn sửng sốt, không hiểu sao bà cụ ở nhà lại biết. Bà thở dài, bảo: “Đêm qua, u nằm mơ thấy thầy con về. Thầy đứng đầu giường u, tay phe phẩy quạt nan, cười khà khà bảo: Mộ bố không đào lại đi đào mộ hàng xóm. Nhưng không sao, rồi sẽ tìm thấy tôi”. Chưa hết ngạc nhiên. Trưa hôm sau, vừa ăn cơm xong, ông Mắc thấy một người phụ nữ chừng 35 tuổi đến nhà ông gõ cửa, xin gặp ông Mắc, bà Trinh. Hai vợ chồng ông còn đang ngơ ngác thì người phụ nữ đã hỏi: “Có phải ông bà vừa ở đảo Hòn Mê về phải không? Có phải ông bà đã đào nhầm mộ người phụ nữ tên Vân có phải không?”. Ông Mắc gật đầu xác nhận. Người phụ nữ khóc oà rồi sụt sùi kể: chị chính là em gái của chị Vân. Tối qua, chị Vân về báo mộng cho chị, rằng muốn tìm thấy mộ chị, hãy đến địa chỉ số nhà 4, ngõ 33 phố Kỳ Đồng, Quận Hồng Bàng, Hải Phòng, gặp vợ chồng ông Mắc, bà Trinh. Chị đi mà lòng dạ cứ bán tín bán nghi. Và thật kỳ lạ, mọi chuyện xảy ra đúng như lời người báo mộng.

Lần thứ 2 ra đảo: sự trùng khớp lạ kỳ

Nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy và tác giả

Ngày 28 tháng 11 năm 2002, được sự giúp đỡ của ông Sơn – nguyên đảo trưởng đảo Hòn Mê, ông Trúc – nguyên đảo phó, ông Tuấn – quân y, những người đã từng công tác ở đảo năm 1985 (nay đã nghỉ hưu), gia đình ông Mắc và chị Vân lại ra đảo. Xem sơ đồ anh Bảy vẽ, các ông Sơn, Trúc, Tuấn đều khẳng định đúng như thực tế lúc đó. Năm 1985, ông Sơn đang triển khai xây dựng nhà A9 còn ông Tuấn là người trực tiếp chôn 4 thi hài chết trôi. Ông Trúc là đảo phó chính trị nên nắm rất rõ các chi tiết.

7h sáng ngày 29 tháng 11 năm 2002, ngôi mộ thứ nhất nằm cách mép nước gần 38m được khai quật. Thi hài một người đàn ông bị mất chân phải hiện ra. Lắp hai chiếc răng rụng vào hàm thì vừa khớp. Cả nhà khóc oà khi nhận ra sợi dây chun quần thắt rất nhiều nút để tăng tính đàn hồi mà ông Mắc đã làm cho cụ. Đây đích thực là xương cốt của bố rồi, không còn nghi ngờ gì nữa.

Khai quật tiếp ngôi thứ 3, mở nắp quan tài ra, lại những tiếng khóc vỡ oà khi gia đình anh Dũng nhận ra bộ quần áo bò vá gối anh Dũng mặc hôm ra khơi.

Khai quật lại ngôi thứ 4, gia đình chị Vân nhận ra tấm mề đay mang hình đức Mẹ mà chị luôn mang bên mình. Ba ngôi còn lại vì chưa xác định được nhân thân nên anh em chiến sĩ trên đảo khai quật lên, ghi lại những dấu vết còn lại của từng bộ hài cốt, tắm rửa, sang tiểu rồi chôn lại.

Thế là, sau 17 năm sống trong vô vọng, cuối cùng, ông Mắc cũng tìm được và đưa hài cốt người cha thân yêu về với quê nhà, thoả một đời ước nguyện của mẹ. Ông nghẹn ngào nói: “Đời này, kiếp này, chúng tôi chịu ơn nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy và Bộ môn cận tâm lý, chịu ơn tấm tình nồng hậu mà các chiến sĩ đảo Hòn Mê đã dành cho gia đình chúng tôi. Thế giới này quả là rộng lớn và có biết bao điều lỳ lạ. Một lần nữa xin được tạ ơn với đời, với người”.

Kỳ 5: Tìm mộ liệt sĩ qua…vong một thai nhi 3 tháng tuổi

Bài 1: Hành trình đi tìm gần 500 hài cốt liệt sĩ ở Tây Nguyên

Kỳ 3: Trở về đất mẹ

Trả lại tên cho các anh

Cũng trong thời gian ở K’Bang, đoàn công tác đã chia đội ngũ các nhà ngoại cảm ra làm 2 nhóm nhằm mở rộng phạm vi tìm kiếm hài cốt của gần 500 liệt sĩ còn vùi sâu đâu đó khắp K’Nak. Nhà ngoại cảm Thẩm Thuý Hoàn, Nguyễn Khắc Bảy làm một nhóm. Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, đại tá Hàn Thuỵ Vũ, nhà giáo Đoàn Thanh Hương (thư ký Đoàn) làm một nhóm khác cùng đông đảo các nhân chứng. Và kỳ diệu như trong chuyện cổ tích, các nhà ngoại cảm với khả năng đặc biệt siêu phàm như thấu thị, đối thoại (nhìn thấy và trò chuyện với các vong hồn) đã nhanh chóng tìm thấy các hố chôn tập thể hài cốt liệt sĩ giữa mênh mông đồng bãi, ngút ngàn cỏ lau, điệp trùng suối, núi, hơn thế, còn xác định được danh tính của từng người, điều mà với những con mắt trần thường tình của người đời là điều không thể.

Bích Hằng (trái) và Thuý Hoàn (phải)

đang ngồi trò chuyện với vong linh LS Minh

ở hố chôn thứ nhất, dọc con suối Đắc-lốp, trong lùm cây rậm rạp, dưới gò mối lớn tìm được 22 liệt sĩ. Qua Bích Hằng, các liệt sĩ cho biết: đây là hố chôn tập thể. Phần nửa   phía tây, gần căn cứ K’Nak, bị địch chất đống đổ xăng đốt nhưng mùi da thịt cháy khét lẹt bốc lên đồi khiến chúng không chịu nổi nên nửa hố phía đông, chúng dùng máy xúc đào đất lấp vùi. Bích Hằng lấy được tên tuổi, địa chỉ quê quán của cả 22 người. Điều đặc biệt là sau này, khi đối chiếu những tên tuổi này với danh sách các liệt sĩ ở Trung đoàn 95A và Tiểu đoàn đặc công 409 thì trùng khít.

ở hố chôn thứ 2, bên dãy cây bạch đàn có gò mối lớn, cách hố thứ nhất khoảng 100m, tìm được tên 12 liệt sĩ.

8h sáng ngày 1 tháng 4 năm 2002, Đoàn lên đồi thông K’Nak để xác minh một ngôi mộ vô danh. Đây chính là cứ điểm phía Bắc của cụm cứ điểm biệt kích K’Nak. Nhà ngoại cảm Bích Hằng thắp hương mời vong liệt sĩ lên trò chuyện. Liệt sĩ cho biết tên là Nguyễn Văn Minh, chính trị viên Đại đội 40, Tiểu đoàn đặc công 409, quê ở Thạch Khê, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Nhân chứng tại chỗ, anh hùng lực lượng vũ trang, trung tá Nguyễn Ngọc Bình, nguyên Đại đội trưởng đại đội đặc công 40 (D409) xác nhận: thông tin trên hoàn toàn chính xác. Ông kể: khi quả pháo nổ trước mặt, anh Minh ngã vật xuống, anh Lê Xuân Hổ văng ra, đồng chí liên lạc hy sinh tại chỗ còn ông thì bị thương gẫy tay phải.

Liệt sĩ Minh hỏi Trung tá Bình (qua nhà ngoại cảm): “Anh Lê Xuân Hổ thế nào?”. Trung tá Bình, tay chắp trước ngực, mắt nhìn vào làn khói hương nghi ngút trên mộ đồng đội, trả lời, giọng run run: “Anh Lê Xuân Hổ lên giúp Tây Nguyên. Năm 1972, chuyển đơn vị về Chu Lai, làm trung đoàn phó chiến đấu ở Tuyên Phước. Trong lúc đi điều tra, anh ấy đã hy sinh”. Liệt sĩ Minh: “Anh Trần Tấn Ước (tiểu đoàn phó tiểu đoàn 409 – tác giả) có khoẻ không? Tôi rất xúc động khi gặp các anh. Tuy nằm ở trên đồi này mát mẻ nhưng tôi không thích vì gần đồn địch. Tôi muốn về quê. Bố tôi là Nguyễn Văn Tỉnh ở Thạch Khê, Hà Tĩnh nhưng đã mất. Còn em là Nguyễn Văn Tiến nhà nghèo, không đủ khả năng đưa tôi về. Trước mắt cho tôi về nghĩa trang liệt sĩ với anh em. Chân phải tôi bị gãy. Tôi nằm trong một khe đá nhỏ, không có người chôn. Giỗ tôi ngày 8 tháng 3″.

Người tìm thấy hài cốt liệt sĩ Minh là anh Giang Xuân Lâm, 40 tuổi, quê ở Thái Bình. Ngày 18 tháng 10 năm 1992 (Âm lịch), trong khi đào phế liệu, anh Lâm phát hiện cạnh tấm tôn có xương hàm nên bới cẩn thận, lật lên thấy hài cốt. Xương dài, cao. Xương chân bên trái còn có băng cuốn. Gia đình anh đã di chuyển mộ 2 lần. Năm 1995, đưa về an táng trên đồi thông.

9h30′ cùng ngày, đoàn khảo sát một số khu vực dọc suối, thuộc phía đông đồn cũ của địch, Bích Hằng phát hiện dưới vườn khoai lang của dân có 5 liệt sĩ. Do có nhóm công binh đi cùng, đoàn cho khai quật một hố nhỏ, rộng 0,60m, dài 1,2m, sâu 0,60 m thì tìm thấy một chiếc răng và mảnh xương. Sợ không đủ sức nên đoàn không dám đào thêm.

Sát mép suối, dưới gốc cây sung, Thẩm Thúy Hoàn đọc được tên 5 liệt sĩ. Liệt sĩ Việt bảo: “Cảm ơn đoàn đã bỏ nhiều công sức đi tìm chúng tôi. Cảm ơn anh em đồng đội đã đến đây. Tại sao khi chúng tôi đi có họ tên mà bây giờ vô danh không ai biết tới”. Thấy chị Đoàn Thanh Hương  ngồi ghi chép tên tuổi, quê quán các liệt sĩ, liệt sĩ Việt nhắc: “Chị ghi nhầm quê của tôi rồi”.

Cuộc tìm kiếm kết thúc vào ngày 2 tháng 4 năm 2002. Đoàn đã xác định được 10 hố chôn với 128 liệt sĩ trong tổng số gần 500 người hy sinh tại K’Nak. Có danh sách cụ thể và đã đối chiếu với đơn vị. Các nhân chứng từng là cán bộ chỉ huy xác nhận là phù hợp với thực tế.

Đưa anh về với mẹ

Đội quy tập đang tìm kiếm hài cốt 8 LS dưới lòng hồ Đắc-Lốp

Lại một mùa mưa rừng qua đi. Giữa lúc lòng anh Mẫn nóng ran như người ngồi trên đống lửa vì hài cốt của người anh và đồng đội vẫn chìm dưới hồ nước bạc thì bất ngờ anh nhận được tin nhắn từ K’Nak: Hồ chứa nước trên dòng suối Đắc-lốp đã cạn. Anh Mẫn mừng rơn như người bộ hành trên sa mạc trong cơn khát cháy bỗng gặp nguồn nước mát. Anh tức tốc báo cáo với Ban chủ nhiệm Bộ môn cận tâm lý, đề nghị cử nhà ngoại cảm vào giúp đỡ khai quật ngay. Anh Mẫn kể lại: “Trước hôm trở lại K’Bang, tôi phải tổ chức buổi họp mặt gia đình gấp. Không hiểu sao, suốt 30 năm vượt thác băng rừng tìm anh, biết bao hiểm nguy rình rập, tôi không sợ. Vậy mà đêm ấy, lòng cứ thấp thỏm không yên. Tôi thông báo với gia đình toàn bộ việc làm của mình cùng toàn bộ hồ sơ, tài liệu, phòng khi gặp chuyện chẳng lành, con cháu có thể thay tôi tiếp tục hành trình tìm kiếm. Nửa đêm, tôi dậy thắp hương cho anh Thành, thầm cầu nguyện vong linh anh sống khôn chết thiêng phù hộ cho tôi chân cứng đá mềm để tìm thấy anh. Và lạ kỳ thay, bát hương trên bàn thờ anh bốc cháy. Tôi hiểu, ở nơi rừng rú heo hút ấy, anh đã nghe được lời nguyện cầu của tôi”.

Sáng 27 tháng 7 năm 2002, nhà ngoại cảm Thẩm Thuý Hoàn (Bích Hằng có việc  tại Liên Bang Nga nên vắng mặt) cùng bộ phận tìm kiếm vào đến suối Đắc-lốp. Nhưng đập chứa vẫn còn mênh mông nước. Bằng chính tấm tình tha thiết với các liệt sĩ, anh Mẫn đã thuyết phục được chính quyền và nhân dân huyện K’Bang làm một việc “động trời”: tháo đập nước Đắc-lốp. Sau nhiều ngày ăn trực nằm chờ, đập cạn trơ đáy. Lòng vừa khấp khởi mừng thì bất ngờ cơn mưa rừng ập đến. Mưa như trút nước. Mưa sầm sập từ ngày qua đêm. Đập nước lại đầy. Cả đoàn ngồi khóc. Anh Mẫn một lần nữa lại phải cầu xin những người giữ đập xả nước. Lần này, đích thân anh lặn xuống vực nước sâu hơn 4m ùng ục réo để nâng từng tấm gỗ chắn lên. Mọi người ngồi trên bờ sợ thót tim. Chỉ sơ sểnh một tý, cái xác thân vạm vỡ của anh sẽ bị dòng nước cuồn cuộn gào thét cuốn phăng. Nhưng cuối cùng, sức người, nói đúng hơn, lòng người đã thắng. Vài ngày sau, nước rút cạn.

Bích Hằng đang ngồi trò chuyện với các vong linh LS

Việc xác định các mốc: gốc cây lớn đã cưa cụt, đường xuống suối cũ, sườn đồi liên quan tới khu vực trạm trung phẫu đều khớp với những dự báo của Bích Hằng từ đợt trước. Về vị trí mộ cũng đã được xác định và cắm cọc từ đợt đó. Vậy mà 4 ngày đào bới cật lực vẫn không thấy dấu vết gì. Mọi người trong đoàn đều hoang mang. Anh Mẫn cũng nản lòng.

Đầu giờ chiều, vừa ăn cơm trưa xong, đoàn đang chuẩn bị đào bới một lần nữa thì mây đen từ đâu ùn ùn kéo đến. Cả khu rừng tối sầm. Bầu trời đen kịt. Anh Mẫn quỳ sụp xuống lạy bốn phương, vừa lạy, vừa khóc. Lần đầu tiên anh khấn trách: “Cháu vào đây làm những việc chưa ai từng làm để tìm anh cháu và các chú, các bác. Vậy mà các bác không thương cháu. Lần này cháu lại phải về không rồi”. Đang tuyệt vọng than vãn như vậy thì bất ngờ, một tiếng reo to như thức tỉnh cả núi rừng: “Chú Mẫn ơi! Tìm thấy rồi”. Người cất tiếng reo vui ấy là Quang, một tân binh vừa tròn 20 tuổi. Cả đoàn hăm hở đào liên tục trong hai tiếng đồng hồ. Và đây rồi, các anh đã hiện ra. 8 bộ hài cốt nằm thành hai hàng, cách nhau 0,5m đều tăm tắp. Tiếng khóc xen lẫn tiếng cười cứ hoang hoải  buông trong buổi chiều tàn giữa rừng sâu thăm thẳm.

37 năm vùi sâu dưới lòng nước bạc, hài cốt các anh còn ít quá!

Khi đoàn làm lễ đưa các liệt sĩ lên xe về huyện đội K’Bang, trời giăng mưa trắng xoá. Thế là, sau 37 năm nằm lạnh lẽo dưới lòng nước bạc, không một nén hương tàn, không một lời thăm viếng, các anh lại trở về trong vòng tay đồng đội, trong niềm xúc động nghẹn ngào của người thân, gia đình.

Ngày đưa anh Thành về nghĩa trang quê nhà (xã Xuân Trung, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) trong không khí long trọng và trang nghiêm cũng là ngày nước mắt mặn mòi của người mẹ 84 tuổi đổ thật nhiều. 37 năm vò võ đợi tin con. 9 lần phấp phỏng chờ Mẫn vào Tây Nguyên đưa Thành về là 9 lần mẹ mừng huỵt, 9 lần mẹ khóc oà tức tưởi. Tưởng vĩnh viễn đời này, kiếp này mẹ mãi mãi mất Thành. Nên lần này, mặc dầu Mẫn điện về thông báo đã tìm được hài cốt anh Thành, chính quyền và nhân dân huyện Xuân Trường đang khẩn trương chuẩn bị đèn, hoa, kèn, trống để tổ chức đón nhận và làm lễ truy điệu cho anh, mẹ vẫn hồi hộp, thấp thỏm không yên. Mẹ sợ trái tim già nua không đủ sức chịu đựng trước trò đùa của tạo hoá lần nữa. Đầu giờ chiều, mẹ đã ra gốc đa đầu làng ngồi chờ. Đêm xuống, sương giăng lạnh, mẹ vẫn lặng câm ngồi như hoá đá. 37 năm, gần 14 nghìn đêm thâu mẹ đã chờ đã đợi. Giờ chờ thêm một đêm nữa có sao. Cho đến 1h sáng, khi chiếc xe trở Thành vừa đỗ, mẹ cuống cuồng lao đến, giang vòng tay gầy guộc ôm trùm lên chiếc tiểu sành phủ lá cờ tổ quốc. Mẹ khóc nấc lên. Ôi! Đứa con yêu của mẹ! Da thịt của mẹ! Máu xương của mẹ! Ngày tiễn con đi mẹ lén lau dòng nước mắt. Giờ đón con về nước mắt mẹ lại tuôn rơi. Có điều, nước mặt mẹ bây giờ mặn chát, chất chứa cả một đời thương đau.

Mẹ LS Thành: “Ôi! đứa con yêu của mẹ!”

Nỗi băn khoăn được giải toả

Có một niềm băn khoăn, day dứt kể từ buổi trò chuyện với liệt sĩ Ngô Trọng Đãi trong buổi chiều ngày 26 tháng 3 năm 2002: “Nếu không đi Vĩnh Thạnh, chuyến đi của cậu sẽ chẳng còn ý nghĩa gì”. Mãi sau này, anh Phạm Văn Mẫn mới giải toả được. Chuyện là, được tin anh Mẫn tìm được nhiều hài cốt liệt sĩ ở trận đánh K’Nak, gia đình ông Phạm Văn Minh (cùng quê Nam Định) đã tìm gặp anh Mẫn, đề nghị giúp đỡ tìm mộ em trai là liệt sĩ Phạm Xuân Ninh cũng hy sinh trong trận đánh đó. Anh Mẫn và nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng vui vẻ nhận lời.

Ngày 18 tháng 1 năm 2003, đoàn xuất phát từ Hà Nội. Trời cuối đông rét cắt da, cắt thịt, cộng với mưa rừng khiến cuộc tìm kiếm vô cùng gian nan. Cuối cùng, Bích Hằng cũng tìm được hài cốt liệt sĩ Phạm Xuân Ninh gần rừng le phía bờ suối cạn. Hài cốt liệt sĩ còn đủ với các đặc điểm được gia đình ông Phạm Xuân Minh công nhận. Trên đường trở ra Hà Nội, anh Mẫn đề nghị đoàn đi vòng đường Vĩnh Thạnh, cách K’Nak khoảng hơn 60km. Đến nghĩa trang huyện Vĩnh Thạnh, anh Mẫn dẫn mọi người tới một ngôi mộ có bia đề tên: Liệt sĩ Phạm Văn Thành (Miền Bắc). Anh Mẫn kể: Từ năm 1995, ông đã đến đây nhiều lần thắp hương và khóc thương người anh của mình nhưng trong lòng vẫn nghi ngờ. Nay lại tìm thấy hài cốt anh Thành ở suối Đắc-lốp. Vậy ngôi mộ này là thế nào?

Bích Hằng làm lễ và thực hiện cuộc trò chuyện với người dưới mộ. Liệt sĩ cho biết đúng tên là Phạm Văn Thành nhưng hy sinh tháng 6 năm 1966 tại trạm xá 210. Quê ở Aí Mộ, Bồ Đề, Gia Lâm (Hà Nội). Nay liệt sĩ còn người anh là Phạm Văn ất khoảng 80 tuổi. Anh Mẫn lập tức điện thoại ra Hà Nội nhờ người đến Aí Mộ để xác minh. Và thật bất ngờ, những thông tin trên hoàn toàn chính xác. Ông Phạm Văn ất hiện vẫn còn nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không có điều kiện vào thăm và đưa hài cốt em mình về quê được. Đến đây, nỗi băn khoăn, vướng mắc bao ngày, anh Mẫn mới giải toả hoàn toàn. Điều đó, càng khiến ông biết ơn vong linh liệt sĩ Ngô Trọng Đãi.

Hành trình tìm kiếm còn dài

Anh Mẫn: “Chừng nào còn sức, còn tiền là tôi còn đi tìm kiếm hài cốt các LS”

Tìm được hài cốt anh Thành, hơn thế, đưa được anh trở về quê hương, ước nguyện một đời của anh Mẫn đã hoàn thành. Nhưng đêm đêm, anh vẫn thảng thốt giật mình khi chợt nhớ, ở núi rừng K’Bang heo hút, giá lạnh, vẫn còn đó những đồng đội của anh Thành thân xác đang nằm dưới chuồng lợn, nhà xí, dưới hồ sâu, cỏ hoang. Không! Anh phải đi, phải tiếp tục đi tìm cho tới khi tất cả các liệt sĩ được về yên nghỉ tại nghĩa trang. Không thể để cho các anh hy sinh thêm một lần nữa. Và thế là, cứ một năm vài lần, tạm gác lại khối công việc đồ sộ của giám đốc S.phone Hà Nội, anh cùng nhiều cựu chiến binh một thời vào sinh ra tử, lại khoác ba lô đưa các nhà ngoại cảm vào K’Bang tìm kiếm hài cốt. Thành quả của những chuyến đi ngược ngàn ấy là hơn hài trăm hài cốt liệt sĩ đã được tìm thấy và quy tập tại nghĩa trang huyện K’Bang. Điều ấy, khiến anh Mẫn vui lắm. Anh bảo: “Chừng nào còn sức, còn tiền là tôi còn đi”.

Để kết thúc bài viết bày, chúng tôi xin được mượn những vần thơ đong đầy nước mắt mà nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng đã đọc trong buổi chiều mưa rừng mịt mù tiễn đưa linh hồn liệt sĩ Ngô Trọng Đãi về quê hương. Đây được xem như những nén tâm nhang chứa chan lòng biết ơn và cả niềm tiếc thương vô hạn đối với những chiến sĩ đã hy sinh thân mình vì nước mà xác thân còn vùi sâu dưới nước lạnh, cỏ hoang, trong sự thờ ơ, lãng quên vô cảm của người đời.

Cầu xin cho linh hồn các anh được siêu thoát.

Lời ru ngọn cỏ

Cỏ xanh bên mộ khẽ ru

à ơi! Rừng đã vào thu lá vàng

Người ơi dù có muộn màng

Dẫu chưa về được nghĩa trang quê nhà

Nơi đây nhiều cỏ, ít hoa

Hãy say giấc ngủ như là tuổi xanh

Mặc ai xây mộng viễn hành

Mặc ai ngắt lá, bẻ cành, rung hoa

Đất này dù đất miền xa.

Thân thương như đất quê nhà người ơi!

Lá vàng lại lá vàng rơi

Lẻ loi lại vắng xa nơi đất rừng

Ru người giữa chốn mông lung

Giọt sương cũng muốn đọng ngưng nỗi niềm

Dấu chân đã trải trăm miền

Về đây ấm với Tây Nguyên nghĩa tình

Người hy sinh, đất hồi sinh

Máu người hoá ngọc lung linh giữa đời

Thương đau ru đến muôn đời

Và xanh xanh mãi những lời ru êm

à ơi! Ai nhớ ai quên

Thì đây cỏ biếc vẫn bên mộ người.

K’Bang ngày 2 tháng 4 năm 2002

Phan Thị Bích Hằng

Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh:



Thượng Tướng Nguyễn Nam Khánh và tác giả

“Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chưa có trận đánh nào chúng ta bị tổn thất nặng nề như trận đánh căn cứ biệt kích của địch ở K’Nak năm 1965. Việc tổ chức tìm kiếm hài cốt liệt sĩ  ở đó là rất tốt, góp phần thực hiện chính sách của Đảng, đồng thời sẽ có thêm kinh nghiệm để chỉ đạo việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ trên phạm vi cả nước. ở riêng Quân khu 5, có khoảng 10 trận đánh tổn thất như thế này”.

Thiếu tướng Châu Khải Địch: “Số lượng anh em hy sinh quá lớn. Nếu tính cả dân quân du kích địa phương, số hy sinh trong trận này lên tới hơn 1.000 người. Lại bị chôn tập thể. Nhiều chiến sĩ bị địch chất đống đổ xăng đốt mất xác nên dẫu tìm kiếm hết sức cũng không thể nào hết được. Cần xây dựng đài tưởng niệmi để chính quyền, nhân dân địa phương, gia đình thân nhân liệt sĩ đến viếng thăm”.

Ông Phan Minh Túc – chủ tịch huyện K’Bang:



Với sự giúp đỡ tận tình, đầy trách nhiệm của các đồng chí lãnh đạo Bộ quốc phòng, Bộ môn cận tâm lý – Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, đồng đội và thân nhân liệt sĩ, đặc biệt là nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng và gia đình ông Phạm Văn Mẫn đã giúp cho huyện K’Bang tìm kiếm, cất bốc, quy tập và đưa vào an táng tại nghĩa trang huyện hơn 200 hài cốt liệt sĩ. Hiện nay, nghĩa trang liệt sĩ K’Bang đã bị quá tải. Việc tìm kiếm vẫn tiếp tục. Chúng tôi đang chuẩn bị mở rộng nghĩa tranh để thời gian tới, có thể quy tập thêm nhiều hài cốt liệt sĩ. Chúng tôi cũng tha thiết đề nghị Bộ lao động thương binh và xã hội sớm có kế hoạch và kinh phí đầu tư cho địa phương triển khai xây dựng Đài tưởng niệm các liệt sĩ trong trận đánh đồn K’Nak trong năm 2006 và đầu năm 2007, kịp khánh thành vào dịp kỷ niệm 60 năm ngày thương binh liệt sĩ 27 tháng 2 năm 2007.

* Trong bài viết này, chúng tôi có sử dụng một số tư liệu của Bộ môn cận tâm lý, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người.

Kỳ 4: Vượt ngàn trùng sóng tìm cha

Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Bài 1: Hành trình đi tìm gần 500 hài cốt liệt sĩ ở Tây Nguyên

Kỳ 2:  Bí mật dưới dòng Đắc-lốp

“Tìm liệt sĩ tiếng lòng vẫy gọi

Đánh thức lương tri của mỗi con người

Ai đem hạnh phúc cho đời

Nhớ người chiến sĩ quên mình năm xưa”

Trò chuyện với…vong linh liệt sĩ

Nhà ngoại cảm Bích Hằng đang “trò chuyện” cùng các LS tại K’Nack

Cuộc “gặp gỡ” kỳ lạ đượm chất “liêu trai” giữa nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng và vong linh liệt sĩ Ngô Trọng Đãi, Phạm Văn Thành đã diễn ra vào hồi 16h ngày 26 tháng 3 năm 2002 tại căn phòng nhỏ của chị ở khu tập thể Kim Liên, Hà Nội. Tham gia cuộc gặp gỡ có thiếu tướng Chu Phác, chủ nhiệm bộ môn cận tâm lý, thuộc Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, Đại tá Hàn Thụy Vũ và anh Phạm Văn Mẫn. Trong không khí tĩnh lặng, thiêng liêng phảng phất hương trầm, trước di ảnh của hai liệt sĩ, nhà ngoại cảm tay chắp trước ngực thành kính, giọng đầy xúc động: “Thưa bác Ngô Trọng Đãi và anh Phạm Văn Thành! Hôm nay là ngày 26 tháng 3 năm 2002, cháu Phan Thị Bích Hằng cùng anh Phạm Văn Mẫn  là em của liệt sĩ Phạm Văn Thành, Thiếu tướng Chu Phác, Đại tá Hàn Thuỵ Vũ muốn được mời bác và anh Thành về. Xin hỏi bác những thông tin có liên quan đến trận đánh căn cứ biệt kích K’Nak và đặc biệt là nơi mai táng cũng như tình trạng hiện nay của các liệt sĩ tại K’Bang”. Ngừng lời như kìm nén niềm xúc động, mắt vẫn dõi nhìn vào tấm ảnh đã ố vàng của liệt sĩ Đãi, chị đằng hắng giọng rồi nói tiếp, giọng run run: “Thưa bác Đãi! Nhiều năm qua, anh Mẫn đã bỏ ra rất nhiều công sức, tiền của để đi tìm mộ anh Thành tại khu rừng mà mọi người chỉ dẫn là nơi đặt trạm trung phẫu 37 năm về trước mà không đạt kết quả. Hôm nay, xin phép bác và anh Thành cho anh Mẫn được thưa chuyện. Mong được hai người chỉ dẫn”.

Anh Mẫn: “Thưa bác Ngô Trọng Đãi và anh Thành! Nhiều năm qua, đã mấy chục lần cháu đi tìm anh cháu và các bác ở K’Bang. Lần gần đây nhất là tháng 12 năm 2001. Mặc dầu đã được các nhân chứng chỉ chỗ chôn cất các bác, cháu đã khai quật nhiều lần mà vẫn không thấy. Lần này, trời run rủi cho cháu được gặp nhiều đồng đội cũ của Bác, những người trực tiếp chỉ huy trận đánh, trực tiếp chiến đấu và mai táng như bác Nguyễn Văn ẩm, bác Trần Duy Trung, bác Nguyễn Trọng Bình, Châu Khải Địch, Nguyễn Văn Cán, Nguyễn Minh Sang, Trần Tấn Ước… Đặc biệt chuyến đi tới còn có Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh cùng nhiều thành viên khác. Cháu mong bác và anh linh thiêng hướng dẫn thêm để chuyến đi này đạt kết quả như mong muốn”. Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, sau một hồi chăm chú nhìn bức ảnh liệt sĩ Đãi và lắng nghe, miệng “dạ, vâng”  liên tục như thể hai người trần đang trò chuyện với nhau, đã quay sang anh Mẫn để truyền đạt lại lời của liệt sĩ (từ đây xin ghi là liệt sĩ Đãi – tác giả). “Tôi không nỡ bỏ anh em ở lại núi rừng để về quê hương dù rất thương em trai tôi. Cả Thành cũng vậy, dù rất thương cậu xong cũng không thể về một mình mà để lại đồng đội đâu Mẫn ạ. Lần nào cậu vào đào bới chúng tôi đều biết hết. Sự hiện diện của cậu ở K’Bang bao nhiêu năm nay ở núi rừng K’Bang là nguồn động viên an ủi vô cùng lớn đối với linh hồn các liệt sĩ. Như vậy là vẫn có người nhớ đến chúng tôi. Chúng tôi vẫn còn  có cơ hội về quê. Nhưng cậu chỉ đi tìm anh cậu còn để bỏ mặc đồng đội của tôi, của anh cậu thì làm sao tìm được”. Anh Mẫn: “Thưa bác, những lần đi tìm trước, cháu có đào đúng chỗ các bác nằm không ạ?”.  Liệt sĩ Đãi: “Toạ độ cậu xác định là đúng nhưng địa điểm cụ thể thì chưa. Phải lùi về phía con suối nữa, nơi có nhiều cây song le gần sát nước. Trước đây chỗ mai táng chỉ cách suối khoảng 25m thôi. Đấy là lúc suối cạn. Còn bây giờ suối đã ngập nhiều rồi. Chỗ hồ nước mênh mông ấy, hài cốt chúng mình ở dưới ấy. Cậu có đủ can đảm lặn xuống đáy không?”.  Anh Mẫn: “Thưa bác, như vậy có nghĩa là các bác nằm ở dưới con suối ạ? Vì ở đó bây giờ là đập thuỷ điện”. Liệt sĩ Đãi: “Cũng gần như vậy. Duy chỉ có một điều tôi không muốn nói ra vì nếu nói, sẽ chẳng ai vào đây với chúng tôi nữa. Thôi, dù sao cũng cố gắng vào với chúng tôi đi. Tôi muốn gặp lại những đồng đội cũ của tôi còn may mắn sống sót sau trận đánh ấy và cũng để cho họ được một lần trở lại chiến trường xưa”. Anh Mẫn: “Vậy có cách nào để xả con suối đó không ạ?”.  Liệt sĩ Đãi: “Thế tôi mới hỏi cậu”. Anh Mẫn: “Bác Đãi ơi! Bác hãy giúp cháu. Cháu sẽ xin xả đập nước. Nhưng nếu chính quyền họ bắt cháu thì sao. Xin bác và các liệt sĩ giúp cháu”. Liệt sĩ Đãi: “Cậu làm vì việc nghĩa thì không ai dám hại cậu đâu, miễn là hợp lý, hợp tình. Nhưng có một điều tôi muốn nói với cậu. Tôi sợ cậu lực bất tòng tâm. Tìm các liệt sĩ còn muôn vàn gian khó đấy. Nhiệt tình không chưa đủ. à, mà cậu đã qua Vĩnh Thạnh bao giờ chưa?”.  Anh Mẫn ngạc nhiên hỏi: “Thưa bác, sao lại phải qua Vĩnh Thạnh xa xôi thế ạ?”. Liệt sĩ Đãi: “Cậu dốt lắm. Không qua Vĩnh Thạnh thì chuyến đi của cậu còn có ý nghĩa gì. Kiểu gì cũng phải qua đó thắp hương. Các liệt sĩ quê ở đó nhiều lắm và còn nhiều lý do khác nữa, sau này mới hiểu”.

Anh Mẫn còn đang vân vi về lời dặn của liệt sĩ Đãi thì vong linh của liệt sĩ Thành về, nói qua nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng: “Anh không biết nói gì thêm với em cả, chỉ mong sớm được cùng em về với quê hương, cha mẹ. Khi đi em nhớ thắp hương xin phép tổ tiên để các cụ phù hộ cho em nhé. Nhà mình còn một ông chú chết trẻ nữa đấy. Chú trách là không bao giờ nói gì đến chú cả. Lần này em phải nhớ. Anh và bác Đãi sẽ phù hộ cho em”.

Chị Hằng tay vẫn chắp trước ngực, nói: “Thưa bác Đãi! Thưa anh Thành. Lần này, anh Mẫn tổ chức đoàn đi tìm kiếm các liệt sĩ tương đối quy mô. Có sự tham gia của nhiều nhân chứng, sự giúp đỡ của quân khu 5, của địa phương tỉnh Gia Lai và các nhà ngoại cảm thuộc Bộ môn cận tâm lý, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người. Thành phần này rất đầy đủ và chuẩn bị rất công phu. Cháu mong các bác hãy phù hộ giúp đỡ cho đoàn đi tìm kiếm đợt này đạt được như ý muốn. Cháu cảm ơn bác Đãi, anh Thành và cảm ơn các liệt sĩ”.

Cuộc nói chuyện kết thúc vào hồi 17h nhưng mọi người còn bịn rịn chưa muốn về. Ai cũng băn khoăn trước những câu nói khó hiểu của liệt sĩ Đãi: “Nếu tôi nói ra sẽ chẳng ai vào đây nữa”. “Nếu không đi Vĩnh Thạnh, chuyến đi của cậu sẽ chẳng còn ý nghĩa gì” và “Cậu có đủ can đảm mò xuống dưới suối không?”. Có gì ẩn chứa trong những lời nói ấy? Câu trả lời vẫn còn ở phía trước, tận núi rừng Tây Nguyên xa xôi, hùng vĩ khiến tất cả mọi người cứ khắc khoải như chính linh hồn các liệt sĩ đã từng khắc khoải đợi chờ suốt 37 năm dằng dặc.

Nước mắt giữa rừng sâu

Trở lại chiến trường xưa tìm đồng đội

Ngày 27 tháng 3 năm 2002, đoàn xuất phát từ Hà Nội. Trên đường đến K’Nak, đoàn rẽ vào Nghệ An, Đà Nẵng đón thêm một số nhân chứng, trong đó có bác Ngô Trọng Quang là em ruột của liệt sĩ Ngô Trọng Đãi, tổng cộng khoảng hơn 40 người, do Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh làm trưởng đoàn. Ba ngày sau, tại núi rừng K’Bang âm u, trùng điệp, tại chính mảnh đất đã thấm đẫm máu của ngót 500 chiến sĩ đặc công anh hùng, những người lính đã một thời vào sinh ra tử trong trận đánh khốc liệt K’Nak, sau 37 năm trời đằng đẵng, nay tóc bạc da mồi, bồi hồi xúc động kể lại kỷ niệm xưa. Nước mắt lăn dài, khói hương nghi ngút, những tiếng nấc nghẹn ngào cứ bật ra. Trung tá Nguyễn Văn Cán, 70 tuổi, sụt sùi kể: “Lúc đó trận đánh rát quá, quân ta thương vong quá nhiều nên tôi phải liên lạc và báo cáo cấp trên bằng bộ đàm. Đang báo cáo thì anh Ngô Trọng Đãi giật lấy máy từ tay tôi để xin ý kiến chỉ đạo. Đúng lúc đó, một quả pháo cối  của địch bắn trúng anh. Bụng anh bị vỡ, máu chảy ồ ạt, ruột gan tòi hết cả ra ngoài. Tôi phải xé quần áo buộc chặt. Dân quân hoả tuyến vội vàng đưa anh về trạm trung phẫu cấp cứu nhưng không kịp. Đau xót và thương lắm các đồng chí ạ!”. Nói đoạn, trung tá Cán bật khóc nức nở như thể đang đứng trước trận chiến năm nào, đầy xác và máu đồng đội.

Các nhân chứng đang xem lại sơ đồ trận đánh để xác định vị trí trạm trung phẫu

Trung tá Nguyễn Văn ẩm, 74 tuổi, nhân vật trung tâm của chuyến đi vì ông là người trực tiếp chôn cất liệt sĩ Đãi, Thành và 6 đồng chí khác nhớ lại: “Tôi đào sẵn 50 hố. Mặc dù số lượng hy sinh quá nhiều so với dự kiến nhưng cuối cùng cũng chỉ đưa về mai táng được 8 đồng chí thôi. Sợ địch phát hiện nên chôn cất xong chúng tôi phải san phẳng ngay. Kể lại thì xót xa lắm. Lúc đó vì khó khăn nên mai táng các đồng chí ấy chẳng có quan tài, áo mưa hay tăng võng gì sất. Chỉ vỏn vẹn có 4m vải xô trắng quấn qua loa. Nếu tìm thấy bây giờ thì xương cốt chắc cũng chẳng còn gì nữa”.

Trung tá Nguyễn Minh Sang, người trực tiếp tham gia trận đánh, sau này đã từng bám trụ chống lại bọn lâm tặc phá rừng, nơi đồng đội của bác đã đổ xương máu, hiện đang sống tại K’Bang thì vừa khóc tu tu, vừa nói: “Phải tìm bằng được các liệt sĩ rồi sau này có chết đi cũng không có gì phải áy náy. Chừng nào chưa tìm được các anh thì rừng này vẫn phải giữ nguyên không ai được chặt phá. Trong khi chúng ta còn sống thì bằng mọi cách, phải đưa các anh trở về với quê cha đất mẹ”.

Bí mật dưới hồ Đắc-lốp

Suối Đắc Lốp

13h ngày 30 tháng 3 năm 2002, bắt đầu cuộc tìm kiếm hài cốt 8 liệt sĩ tại khu vực trạm trung phẫu. Trung tá Nguyễn Văn ẩm, do tuổi cao, sức yếu, trí nhớ giảm sút, cộng với địa hình thay đổi quá nhiều qua 37 năm mưa nắng nên không thể nhớ được chính xác vị trí trạm trung phẫu cũng như nơi chôn cất 8 liệt sĩ. Cả ba nhà ngoại cảm là Phan Thị Bích Hằng, Nguyễn Khắc Bảy và Thẩm Thuý Hoàn thì đều kêu ở đây nhiễu quá, mất hết thông tin, không ai gặp được vong. Lực lượng bộ đội và dân quân đào một số đoạn hào nhưng không phát hiện được dấu vết gì. Một số dân địa phương, người Ba Na lớn tuổi, chỉ một số điểm khác cũng không trúng.

Vị trí trạm trung phẫu gần suối Đắc-Lốp

Các nhà ngoại cảm đều cố gắng cầu khấn xin gặp vong người chỉ huy cao nhất là liệt sĩ Ngô Trọng Đãi. Đến 21h ngày 30 tháng 3 năm 2002, tại nhà nghỉ, Thẩm Thuý Hoàn gặp được vong liệt sĩ Ngô Trọng Đãi. Liệt sĩ dặn: “Triển khai xuống phía dưới con suối, không nên đào quá lên trên. Hôm nay đã hất một phần, ngày mai chịu khó bới lại một chút. Từ chỗ đào hôm nay hơi chéo xuống. Vì hài cốt của chúng tôi không còn nhiều nên khi đào phải chú ý thận trọng một chút. Ngày mai tìm được các liệt sĩ khác rồi mới tìm được tôi và anh Thành. Nếu không, các anh em còn lại sẽ không có ai tìm nữa”.

Cùng thời gian đó, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng cũng được “yết kiến” vong liệt sĩ Đãi. Chị nói thêm: “Người bác rất cần gặp trong ngày hôm nay vì bác đã xanh cỏ để cho họ đỏ ngực thì không đến để nói một lời chia sẻ với các anh em ở đây. Bác ẩm là đồng đội cũ nhưng không nói thay được. Khi nghe tin đoàn vào, anh em liệt sĩ ở đây rất mừng, ra đón rất đông. Nhưng các vị tướng lại không nói một lời. Sát mép gần bờ suối còn nhiều anh em. Cháu yên tâm không đi nhầm khu vực. Bác sẽ hiệp đồng với cháu”. Hình ảnh của liệt sĩ Ngô Trọng Đãi xuất hiện mờ ảo, rất nhanh nhưng cả hai nhà ngoại cảm đều thu được trùng khớp thời gian và nét mặt.

Chiều hôm sau, đoàn tìm kiếm quay trở lại rừng. 13h, cùng một lúc, chị Hằng và Hoàn đều reo lên: “Bác Đãi về kìa”. Việc tìm kiếm khu mộ bắt đầu chuyển hướng về phía chân đồi, nơi dòng suối Đắc-lốp. Cả đoàn túm vào phát quang hơn 100m rừng le rậm rạp, mở đường xuống suối. Các nhà ngoại cảm và trung tá Nguyễn Văn ẩm cùng chung một ý nghĩ: Dòng suối cạn khi xưa nay đã thành hồ nước rộng gần 100m2 do chính quyền huyện K’Bang ngăn nước tạo đập làm thuỷ điện. Và kia rồi, một gốc cây cổ thụ bị cưa ngang nổi lập lờ mặt nước. Bằng khả năng đặc biệt, nhà ngoại cảm Bích Hằng đã xác định được vị trí của 8 liệt sĩ đang nằm dưới lòng suối, rồi cho người cắm cọc theo các trật tự như sau: Liệt sĩ Đãi, Tất, Được, Tuyển, Hưởng, Bình, Thành và Công. Liệt sĩ Đãi là tiểu đoàn trưởng, người chỉ huy cao nhất nên được an táng đầu tiên. Người được an táng cuối cùng là liệt sĩ Công, trẻ nhất.

Bích Hằng thắp hương tại vị trí đang khai quật để nói chuyện với các liệt sĩ. Liệt sĩ Đãi yêu cầu gặp bác Lại (em trai).  Liệt sĩ nói (qua Bích Hằng): “Em mới vào đây thì biết gì đâu. Không đào chỗ này nữa. Cô Lệ dạo này ra sao?”. Bác Lại đáp: “Cô Lệ đã lấy chồng là thương binh anh ạ”. Liệt sĩ Đãi: “Trước đây, anh có người yêu tên Lý, quê ở Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, làm giáo viên, quen nhau ở lớp học bình dân. Cô ấy đã tình nguyện quan hệ với anh một lần. Lúc đó, hai đứa có bàn với nhau: Nếu con gái đặt tên là Hoài, con trai đặt tên là Nhơn. Nhưng trong túi anh lúc nào cũng có ảnh của cô Lệ ở quê mình đã dạm hỏi ý. Rất tiếc là lúc chôn anh, bác ẩm đã không chôn bức ảnh cùng. Giỗ anh vào ngày mồng 7 tháng 3 chứ không phải mồng 8. Làm lệch ngày, anh về, không có nén hương, anh tủi thân. Vị trí các anh em liệt sĩ ở đây là: Đãi, Tất, Được, Tuyển, Hưởng, Bình, Thành, Công. Nếu anh Chương (đồng chí Nguyễn Huy Chương, nguyên chính trị viên trưởng tiểu đoàn, người quyết định trận đánh – tác giả) mà có trách nhiệm đến thăm anh em ngay từ khi hoà bình lập lại thì có biết bao nhiêu anh em đi theo ủng hộ, chứ phải đâu như bây giờ. Nơi này tắm máu anh em xong để đấy. Y cụ, xong nồi, chảo vẫn ở dưới suối”. Liệt sĩ Thành nói chen vào: “Lúc nãy bác Đãi thấy bác Lại cứ đi vòng quanh mãi nên bác Đãi thương quá mà về gặp. Mẫn ơi! Chỉ cần em vào đây thắp hương là đủ rồi. Để cho anh ở lại đây. Không phải anh không muốn về. Anh cũng nhớ mẹ lắm chứ nhưng sợ em lực bất tòng tâm vì anh đang nằm ở dưới làn nước sâu. Chị Thường nản rồi không vào thăm anh nữa à? Chị ấy là phụ nữ, đi lại vất vả thế, chắc không chịu được. Có thằng Hải, thằng Đông vào đây là anh vui rồi. Hải nó lớt phớt, không tin là tìm được anh. Anh chỉ còn rất ít”. Liệt sĩ Đãi nói tiếp: “Khẩu súng lục anh đeo, lúc vào trạm trung phẫu, vì ruột cứ lòi ra nên đã tháo ra để quấn băng. Anh chỉ ú ớ được mấy tiếng rồi không biết gì. Cô Lý rất yêu anh nhưng nhà đã dạm hỏi coi như anh có vợ. Muốn gửi lời xin lỗi cô Lệ đã để cô ấy chờ lâu quá. Em mang về dù một nắm đất cũng nhắn Lệ đến thăm anh”.

Bích Hằng: “Thưa bác Đãi, cháu xin phép được thỉnh cầu bác lần nữa. Mong bác cho biết, toạ độ chúng cháu cắm cọc kia đã đúng chưa ạ? Bác có thể chỉ dẫn để chúng cháu cắm lại. Và bác Lại có đôi lời muốn thưa chuyện với bác”. Liệt sĩ Đãi: “Đây là cọc đầu tiên và 6 cọc tiếp theo. Nhưng không phải chỗ này, đi tiếp cắm lại. Được rồi. Bắt đầu từ đấy kéo dài thẳng đến gốc cây. Đây là cây đa che chở cho trạm trung phẫu”. Bác Ngô Trọng Lại, chắp tay vái lia lịa, miệng mếu máo: “Anh ơi! Nếu đúng mảnh đất này là nơi lưu giữ xương thịt anh thì anh cho phép tất các các gia đình thân nhân liệt sĩ ở đây đem nắm đất này về. Mong anh trao đổi với các anh em và cho biết ý kiến. Điều kiện em rất khó khăn, tuổi cao, sức yếu, khả năng tài chính eo hẹp. Anh nên về nghĩa trang liệt sĩ Hoà Vang hoặc đài liệt sĩ xãHoà Thọ quê mình yên nghỉ”. Liệt sĩ Đãi: “Thật ra trong lòng anh đã nghĩ đến điều đó. Dù sao nơi này cũng có xương máu của anh và đồng đội. Với tình cảm của em và mọi người dành cho anh thì dù chỉ là một nắm đất cũng đầy đủ ý nghĩa rồi. Hồi xưa đi hoạt động, anh vẫn thường bảo với em là: Anh hùng xá kể chi thân xác. Mạng sống của mình còn chẳng tiếc, huống hồ một nắm xương tàn. Thôi thì sinh thổ hoá thổ. Sinh ra từ đất rồi lại trở về với đất. Với anh em ở đây, về mặt chỉ huy anh có thể nói được. Nhưng tình cảm cá nhân thì mỗi người một ý, anh không thể quyết định thay được. Riêng anh, anh đồng ý theo em về. Em mỗi tuổi mỗi yếu, đi lại nhiều, thương lắm. Quê mình là Hoà Nhơn sao bây giờ là Hoà Thọ. Dù về nghĩa trang xã hay huyện đều được còn như thế này coi như anh được thuỷ táng dưới lòng suối với anh em. Cậu Tuyển, Được cũng sẵn sàng về. Còn các anh em khác đang lưỡng lự. Em có thể bốc một nắm đất sát bờ suối. Còn vị trí vừa cắm cọc là có anh nằm ở dưới. Em cứ bốc một nắm đất lên rồi khấn: Ba hồn bảy vía anh Ngô Trọng Đãi ở đâu thì theo em về quê. Em bốc bảy lần và nói như vậy. Mỗi lần cắm một nén hương. Em chắp tay xin thần rừng, thần sông, thần suối phù hộ cho linh hồn anh được về quê. Anh không muốn về trong ngậm ngùi mà muốn có lá cờ Tổ quốc phủ lên phần đất, dù là tượng trưng, để phủ lên cho anh”.

Bác Lại vâng lời, làm đúng lời anh dặn. Vừa bốc đất, vừa khấn, vừa khóc. Tiếng khóc nấc đớn đau chất chứa cả một đời cứ lan trong chiều tím nghe vừa ai oán, vừa xót xa. Cả đoàn không ai kìm được nước mắt. Còn anh Mẫn, lặn ngụp dưới lòng hồ suốt từ chiều đến giờ nhưng vì hồ rộng, nước sâu nên đành chịu. Nước hồ chỗn lẫn nước mắt ướt đầm. Thương anh đứt ruột nhưng đành phải gạt nước mắt tạ từ chờ đến mùa khô nước cạn.

Vì hồ rộng nước sâu nên anh Mẫn đành phải nuốt nước mắt lên bờ

Kỳ 3: Trở về đất mẹ

Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng


Nhà báo Hoàng Anh Sướng

Những năm gần đây, qua các phương tiện thông tin đại chúng, bạn đọc đã biết đến khả năng đặc biệt: tìm mộ từ xa của các nhà ngoại cảm Việt Nam. Những cái tên như Phan Thị Bích Hằng, Nguyễn Khắc Bảy, Thẩm Thuý Hoàn, Dương Mạnh Hùng, Nguyễn Văn Nhã đã ít nhiều trở nên quen thuộc đối với chúng ta. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, số hài cốt mà các nhà ngoại cảm tìm thấy trong thời gian vừa qua đã lên tới vài trăm ngàn. Địa bàn hoạt động của các nhà ngoại cảm không chỉ dừng ở 61 tỉnh thành mà còn vượt cả biên giới quốc gia, sang tận Lào, Căm-pu-chia, Trung Quốc. Việc tìm kiếm hài cốt, khi hội đủ duyên may thì ly kỳ, huyền hoặc như những thiên cổ tích. Song nếu chưa đủ duyên thì khó khăn như tìm bóng câu, tăm cá, khổ chủ sinh ra bất mãn, ngán ngẩm, chán chường. Chính vì thế đã xuất hiện những luồng dư luận trái chiều: người được chứng kiến việc tìm thấy mộ thì hết lời ngợi ca các nhà ngoại cảm, thậm chí còn thần thánh hoá khả năng đặc biệt của họ, người không tìm được mộ người thân hoặc cố tình không tin thì phủ nhận sạch trơn, thậm chí còn riết róng tố cáo họ là những kẻ đại bịp, lừa đảo.

Mong muốn có một cái nhìn chân xác về thế giới huyền bí này, suốt nửa năm trời đằng đẵng, tôi đã theo chân các nhà ngoại cảm lên rừng, xuống biển, đến những vùng thậm xa xôi để chứng kiến, ghi hình, tìm hiểu công việc làm đặc biệt của họ – tìm hài cốt. Tôi cũng đã gặp hàng trăm nhân chứng, hàng chục các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu về lĩnh vực tâm linh huyền bí này để thu thập tài liệu, chứng cứ, kiểm chứng. Thiên phóng sự đặc biệt “Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh” là kết quả của những chuyến khoác ba lô vượt rừng, ngược suối ấy. Hàng trăm câu chuyện ly kỳ, huyền hoặc với hàng ngàn tình tiết hấp dẫn, đầy xúc động về chuyện nghề, chuyện đời của các nhà ngoại cảm đã được tôi ghi lại một cách trung thực, sinh động. Khởi đăng thiên phóng sự này, chúng tôi hy vọng rằng nó sẽ giúp ích phần nào cho các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến ngoại cảm trong việc vén bức màn bí mật của thế giới tâm linh kỳ bí. Và cũng có thể, sẽ giúp cho hàng ngàn những người mẹ, người vợ liệt sĩ sớm tìm thấy hài cốt của chồng con mình sau mấy chục năm dằng dặc đỏ mắt mỏi mòn ngóng trông.

Bài 1: Hành trình đi tìm gần 500 hài cốt liệt sĩ ở Tây Nguyên

Cuối cùng, chúng tôi cũng có mặt ở K’Nác, huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai sau hành trình ngót 2 ngày đêm vượt 1.500 cây số bằng ô tô từ Hà Nội. Tây Nguyên vào tiết thu đẹp nao lòng. Trời ngằn ngặt xanh, mây trắng lốp, nắng vàng rượi, gió mơn man. Xa xa, dòng suối Đắc- lốp, nơi 41 năm trước đã nhuốm đỏ máu liệt sĩ vẫn rì rầm chảy giữa cỏ lau ngút ngàn. Ngọn đồi trước mặt, nơi căn cứ biệt kích của địch chiếm đóng xưa, nay là toà nhà 4 tầng khang trang, trụ sở của lâm trường Kông- Hà – Nừng. Dưới chân đồi, nơi từng diễn ra trận đánh khốc liệt, gần 500 chiến sĩ đã vùi xác, giờ chỗ là ao hồ, chỗ là nhà cửa, chuồng trại. Chao ôi cái sự xoá nhoà khắc nghiệt của thời gian.

Đang miên man nghĩ, bất giác, tôi chợt rùng mình khi nghe nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, người đang chắp tay trước bàn thờ thực hiện cuộc trò chuyện với các vong liệt sĩ từ sáng, quay sang chúng tôi nói, giọng nghèn nghẹn: “Liệt sĩ Ngô Trọng Đãi, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn đặc công 409, quân khu 5 khóc ghê quá. Chú ấy bảo: Ngót 40 năm, lâu quá rồi, thời gian đủ để xoá nhoà tất cả, kể cả chúng tôi, những người đã hy sinh vùi xác thân vĩnh viễn nơi này. Chỉ có các bạn là những người còn nhớ đến để đi tìm. Còn những người chúng tôi nằm xuống xanh cỏ để cho họ đỏ ngực, để được thăng quan tiến chức thì có bao giờ họ nghĩ đến chúng tôi đâu. Giá như họ nhớ đến chúng tôi chỉ một chút thôi và sớm hơn một chút thôi thì giờ đây, đâu đến nỗi các bạn phải khổ sở và nhất là chúng tôi, mấy trăm con người phải vùi thịt xương nơi rừng xanh núi đỏ, không một nén hương tàn. Tôi không nỡ bỏ anh em ở lại núi rừng để mà về quê dù rất thương em trai tôi. Các em ở đây chúng còn trẻ quá. Hầu hết mới 18 – 19 tuổi đầu. Tôi phải đưa bằng được họ về với quê. Tôi sẽ chỉ dẫn cho các bạn tìm hài cốt của họ”.

Kỳ 1: Gần trọn một đời tìm anh

Khởi hành gian nan


Nếu không có cuộc hành trình tìm kiếm hài cốt người anh thân yêu của giám đốc công ty S-fone Phạm Văn Mẫn thì có lẽ mãi mãi, người đời sẽ chẳng biết gì về trận đánh khốc liệt vào trường biệt kích của địch ở K’Nác năm xưa. Và chắc chắn, thịt xương của ngót năm trăm chiến sĩ sẽ vĩnh viễn chìm sâu trong lòng đất, dưới đáy ao chuôm, chuồng trại, nhà cửa. Bởi lẽ, trong hầu hết các trang sử của những đơn vị bộ đội, chẳng có một dòng ghi chép nào nhắc đến trận đánh K’Nác tối ngày mồng 7 rạng ngày 8 tháng 3 năm 1965 buồn thảm ấy. Bộ đội ta hy sinh quá nhiều. Máu của các chiến sĩ đã nhuốm đỏ dòng suối Đắc – lốp. Xác các anh phơi trắng chân đồi. Theo thượng tướng Nguyễn Nam Khánh thì sở dĩ người ta cố tình quên đi vì sợ bị quy trách nhiệm. Cách hành xử ấy không những có lỗi với các chiến sĩ đã hy sinh mà còn có lỗi với thân nhân các gia đình liệt sĩ vì sẽ gây rất nhiều khó khăn cho họ trong việc tìm kiếm hài cốt chồng con mình sau này.

Anh Mẫn thắp hương tại đền tưởng niệm các LS ở K’Nack

Trở lại câu chuyện đi tìm mộ liệt sĩ của anh Phạm Văn Mẫn. Mẫn có người anh trai tên Phạm Văn Thành, quê ở Xuân Trung, Xuân Trường, Nam Định, lên đường nhập ngũ năm 1964. Năm ấy, cậu bé Mẫn mới tròn 10 tuổi. Lúc lên xe, anh Thành đã dúi vào tay Mẫn nắm cơm, khẩu phần ăn duy nhất của anh trước lúc lên đường. Thương anh, mắt nhoè lệ, lòng quặn đau như kim châm, dao cứa.

Chiến trường ác liệt. Anh đi biền biệt không về. Chẳng một lá thư, một dòng nhắn gửi. Mẹ đỏ mắt ngóng chờ. Năm 1972, tin sét đánh ngang tai. Anh Thành đã hy sinh. Cả nhà chết lặng.

Hoà bình lập lại. Nhớ thương anh, Mẫn quyết chí đi tìm. Nhưng biết tìm ở đâu? Giấy báo tử chỉ vỏn vẹn ghi: “Hy sinh ở mặt trận phía Nam”. Kệ, Mẫn cứ đi. Lúc bắt xe khách, khi cuốc bộ ngược đường Trường Sơn. Cứ thấy nghĩa trang liệt sĩ là anh vào. Lần tìm từng tấm bia trên mộ nhưng cái tên Phạm Văn Thành, quê Nam Định vẫn biệt vô âm tín. Thấm thoắt đã ngót 30 năm. Từ lúc tóc Mẫn còn xanh đến khi điểm bạc mà thông tin về phần mộ người anh vẫn biền biệt phương trời.

Đúng lúc tưởng như vô vọng nhất thì tình cờ anh gặp được đồng chí Trần Văn Thức, đồng đội cũ của anh Thành cùng trực tiếp tham gia trận đánh K’Nak. Anh Thức kể: “Tôi thuộc đơn vị bộ đội chủ lực tham gia hỗ trợ bộ đội Quân khu 5 đánh Trường biệt kích Tây Nguyên. Súng nổ mở màn lúc 23h 30′ thì chừng vài phút sau, tôi bị thương cùng với anh Thành. Nhưng mãi đến sáng mới được đưa ra Trạm xá Trung phẫu, cách K’Nác khoảng 8 -10 km. Tại đây, tôi có nhìn thấy dân công hoả tuyến đưa đồng chí Thành đi mai táng cạnh trạm Trung phẫu. Vị trí chôn cất thì không rõ lắm vì lúc đó tôi bị thương nặng, lúc tỉnh, lúc mê”. Thông tin ấy khiến cho anh Mẫn khấp khởi hy vọng và càng quyết chí đi tìm anh.

Từ đồng chí Thức, anh Mẫn đã gặp gỡ được nhiều nhân chứng vốn từng tham gia trận đánh K’Nak xưa. Gặp đồng chí Trần Duy Trung thuộc Trung đoàn 95 A, sư đoàn 325 bộ đội chủ lực, nay đang ở Xuân Trường, Nam Định. Gặp Trung tá Trần Tấn Ước, nguyên chính trị viên phó tiểu đoàn 409, hiện ở thị trấn Bình Sơn, Bình Định. Gặp trung tá, anh hùng Nguyên Ngọc Bình nguyên là đại đội trưởng đại đội 1 của tiểu đoàn 409, người được phong anh hùng trong trận đánh K’Nak. Gặp trung tá Nguyễn Văn ẩm, nguyên chính trị viên phó tiểu đoàn, phụ trách việc chôn cất các liệt sĩ cùng một số nhân chứng khác. Cả một trận đánh khốc liệt năm xưa chợt hiện về qua hồi ức của những người một thời vào sinh ra tử ấy.

Vén bức màn bí mật về trận đánh khốc liệt K’Nak

Căn cứ biệt kích K’Nak nằm trên 3 quả đồi chạy dọc Bắc Nam, có nhiều lợi thế quân sự. Nơi đây đồi núi lô nhô, thuận lợi cho việc xây dựng phòng thủ và bố trí binh lực, hoả lực, xuất phát tiến công. Lại có nhiều thung lũng sình lầy, có sông Ba và khe suối bao bọc, cản trở khi bị đối phương tiến công. Mỹ nguỵ đã xây dựng ở đây một cụm cứ điểm bao gồm đồn luỹ bảo vệ, sân bay dã chiến và trại pháo nhằm chặn cắt đường giao liên giữa Bình Định và Gia Lai. Quân ta đã nhiều lần tập kích căn cứ này nhưng đều không thành công. Mùa xuân năm 1963, Đảng uỷ, Bộ tư lệnh quân khu 5 và Bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên quyết định tập trung lực lượng trên quy mô lớn tấn công căn cứ này. Lực lượng ta gấp 3 số lượng địch, gồm: Tiểu đoàn đặc công 409 quân khu 5, một đơn vị đặc công của tỉnh Bình Định, trung đoàn số 10 và Bộ phận chỉ huy tiền phương quân khu 5. Tổng quân số lên tới gần 750 người.

14h ngày 7 tháng 3 năm 1965, bộ đội ta xuất quân từ Kông-Hà-Nừng, cách K’Nak hơn 20 km. 18h, cách suối khô 500m. 19h, bắt đầu tiếp cận. Đến 23h, quân ta đã chiếm lĩnh xong các vị trí quy định. Theo kế hoạch, đặc công mở cửa diệt các vị trí trọng yếu. Sau đó, bộ binh dùng xung lực mạnh giảI quyết trận địa. Song do quá trình trinh sát địa hình chuẩn bị trận đánh trước đó một tháng đã để lộ dấu vết nên địch biết trước kế hoạch tấn công của ta. 23h 30′, bộ đội ta vấp phải mìn nổ, mìn sáng. Địch lập tức nổ súng trùm lên toàn bộ đội hình của ta. Pháo sáng chúng bắn sáng rực như ban ngày. Ta tiến công cưỡng hành. Bộ đội ta chiến đấu cực kỳ dũng cảm, đã đánh chiếm được điểm cao phía Bắc và phía Nam nhưng hướng chủ yếu ở giữa chỉ chiếm được “đầu cầu”. Lô cốt cố thủ của địch bắn chặn quyết liệt. Đến 0h 30′ ngày 8 tháng 3, quân ta thương vong gần hết. Xác của các chiến sĩ nằm la liệt trắng cả ven suối và chân đồi K’Nak. Lực lượng còn lại buộc phải rút lui. Địch vẫn bắn truy kích dữ dội. Gần 500 thương binh và tử sĩ của ta không mang theo được. Một phần địch gom lại, đổ xăng đốt. Số còn lại, dùng xe ủi đào từng hố hất các liệt sĩ xuống rồi san phẳng.

Đồng chí Nguyễn Văn ẩm, chính trị viên phó Tiểu đoàn 409, phụ trách công tác thương binh ở trạm trung phẫu (cách vị trí địch khoảng 8km) cho đào sẵn 50 huyệt mai táng. Mỗi hàng 10 huyệt, cách nhau 60 – 80cm nhưng duy nhất chỉ mai táng được 8 đồng chí, trong đó có tiểu đoàn trưởng Ngô Trọng Đãi và liệt sĩ Phạm Văn Thành. 8 đồng chí này bị thương ngay từ đầu trận đánh nên mới đưa ra được phía sau. Lực lượng cứu thương và dân công hoả tuyến (đều là người dân tộc) cũng hy sinh hết cả nên không còn người cấp cứu và tải thương ra cứ được. Nếu tính cả lực lượng này, hơn 1.000 người đã để lại xương thịt ở trận địa K’Nak.

Cuộc điện đàm… huyền hoặc

Chuyện tìm hài cốt liệt sĩ Phạm Văn Thành giờ tưởng chừng dễ dàng như trong lòng bàn tay. Nhưng khi đưa các nhân chứng vào K’Nak, anh Mẫn đã bật khóc nức nở. Ngót 37 năm trời dằng dặc, cảnh vật thay đổi quá nhiều. Trạm trung phẫu trước kia có 4 cây đa cổ thụ to lắm, che chắn cho trạm xá, nay chỉ còn một cây. Suối Đắc-lốp giờ đã ngăn dòng làm đập thuỷ điện. Đồng đội cũ của anh Thành giờ đều tuổi cao, sức yếu, trí nhớ giảm sút nên việc xác định vị trí ngôi mộ rất khó khăn. Nhiều lần, anh Mẫn phải cầu viện đến các nhà ngoại cảm. 9 nhà ngoại cảm nổi tiếng từ Bắc chí Nam anh đều đã vời vào nhưng không hiểu sao, người ra đến sân bay thì cáo ốm xin về, người bước đến cửa rừng thì kêu: “khu rừng này thiêng lắm, sợ lắm, không tìm được đâu” rồi hớt hải bỏ về. Có nhà ngoại cảm vừa đào đào bới bới bỗng lăn đùng ra đất, tay ôm chặt đầu lăn lộn, miệng kêu gào: “Ôi! đau đầu quá! Đau quá”. Lần cuối cùng, ngày 26 tháng 12 năm 2001, nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy cùng anh Mẫn đi Tây Nguyên. Trước khi đi, nhà ngoại cảm bằng khả năng đặc biệt đã cung cấp những thông tin ban đầu khá chính xác:

–           Nơi liệt sĩ Thành nằm còn có 7 người nữa.

–           Khu mộ cách con suối từ 20 – 50m, có nhiều bụi rậm, trong đó có một cây cụt.

–           Anh Thành nằm hàng thứ 2, ngôi thứ 2 từ phải qua trái. Ngôi đầu, hàng đầu là một người chỉ huy.

Nhưng vào làm việc tại thực địa, nhà ngoại cảm cho khai quật một số điểm đều không thấy. Tranh luận nổ ra. Một số người trong đoàn giảm niềm tin và chán nản. Lúc đó, nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bảy mới gọi điện thoại di động trao đổi với thiếu tướng Nguyễn Chu Phác – chủ nhiệm Bộ môn cận tâm lý (Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người), rồi chuyển điện thoại cho anh Mẫn trực tiếp nói chuyện. Từ Hà Nội, thiếu tướng Chu Phác hỏi: “ở đấy ai là Thành?”. Anh Mẫn đáp: “Thưa chú! Thành là anh ruột cháu. Anh ấy là liệt sĩ. Chúng cháu đang tìm nhưng không thấy”. Thiếu tướng lại hỏi: “ở đấy có ông chỉ huy tên Ngô Trọng Đãi đeo súng ngắn hy sinh không?”. “Thưa chú! Chú Ngô Trọng Đãi là tiểu đoàn trưởng, hy sinh cùng anh cháu”. Thiếu tướng bảo: “Ông ấy đeo súng lục, tay cầm cái gậy, đuổi các cậu về và nói: ở đây có hàng trăm liệt sĩ, chúng nó không tìm mà chỉ nhăm nhăm đi tìm một người là Thành – anh nó thì không cho tìm”. Thiếu tướng trùng giọng: “Thôi! Các cậu về đi. Về ngay để nghiên cứu, tổ chức lại cuộc tìm mộ này”.

Ngày 20 tháng 2 năm 2002, anh Phạm Văn Mẫn đã làm một lá đơn gửi Bộ môn cận tâm lý và Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người nhờ giúp đỡ tìm mộ anh trai và đồng đội ở K’Nak. Hơn một tháng sau, Bộ môn đã cử một đoàn công tác đặc biệt gồm 3 nhà ngoại cảm nổi tiếng: Phan Thị Bích Hằng, Thẩm Thuý Hoàn, Nguyễn Khắc Bảy do Đại tá Hàn Thuỵ Vũ phụ trách trở lại Tây Nguyên. Anh Phạm Văn Mẫn đã trực tiếp mời Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, nguyên Phó tư lệnh quân khu 5 cùng nhiều nhân chứng khác tham gia đoàn. Trước khi lên đường trở lại chiến trường xưa, Đoàn và nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, bằng khả năng đặc biệt đã mời vong linh liệt sĩ Ngô Trọng Đãi, tiểu đoàn trưởng và vong linh liệt sĩ Phạm Văn Thành về nhà riêng ở Khu tập thể Kim Liên để xin ý kiến. Cuộc trò chuyện kéo dài hơn 1 tiếng đồng hồ trong bảng lảng hương khói và nước mắt với rất nhiều thông tin của liệt sĩ Ngô Trọng Đãi đã mở ra hướng đi mới cho việc tìm mộ tập thể liệt sĩ ở Tây Nguyên.

Kỳ 2: Bí mật dưới dòng Đắc-lốp